Language: English
Vị trí, vai trò và tiềm năng phát triển của tỉnh Đồng Nai - Phần 1 In
Thứ năm, 01 Tháng 12 2011 16:04

dong_nai_3VIETRADE - Vị trí: Đồng Nai nằm ở vị trí trung tâm của VKT- TĐPN, tọa độ 100 30’00’’ –110 34’57’’ vĩ bắc và 1060 45’30’’ – 1070 35’00’’ kinh đông; phía tây giáp với TP. Hồ Chí Minh, phía nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và phía tây bắc giáp tỉnh Bình Dương.


Địa hình: Đồng Nai nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh và đồng bằng sông Cửu Long. Địa hình thấp dần từ bắc xuống nam, gồm 3 dạng chủ yếu: địa hình đồi núi thấp độ cao 200 – 800m, chiếm 8% diện tích tự nhiên; địa hình đồng bằng lượn sóng  có độ cao 20 – 200m, chiếm 80% diện tích tự nhiên, địa hình bãi bồi ven sông có độ cao dưới 20m, chiếm 12% diện tích tự nhiên. Nhìn chung địa hình của Đồng Nai tương đối bằng phẳng, kết cấu đất có độ cứng chịu nén tốt (trên 2kg/cm2), thuận lợi cho việc đầu tư phát triển công nghiệp và xây dựng công trình với chi phí thấp.

 

Diện tích tự nhiên: 5.894 km2

Khí hậu: Đồng Nai nằm trong vùng nhiệt đới có gió mùa, khí hậu ôn hòa, ít bão lụt và thiên tai, nhiệt độ bình quân hàng năm 25 – 260C, gồm 2 mùa mưa nắng, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa tương đối cao, khoảng 1.500mm – 2.700mm, số giờ nắng trung bình hàng năm có 2.200 – 2.600 giờ.

 

Tổ chức hành chính: Tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chánh với 171 đơn vị xã, phường, thị trấn, gồm thành phố Biên Hòa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, thị xã Long Khánh và 9 huyện của tỉnh là Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Định Quán, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc.

 

Dân số: 2.559.673 người, mật độ dân số: 386,511 người/km2 (năm 2010) với 31 dân tộc cùng chung sống trên địa bàn tỉnh.

 

Đất đai: Theo phân loại của FAO/UNESCO, Đồng Nai có 10 nhóm đất:

 

Đất phù sa: diện tích 27.929ha chiếm 4,76% diện tích tự nhiên, phấn bố tập trung ở các khu vực đồng bằng ven sông Đồng Nai thuộc các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu.

Đất ngập úng gley: diện tích 26.758ha chiếm 4,56% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các khu vực đồng bằng ven sông Đồng Nai và trong các thung lũng núi ngập nước mùa mưa, đất thích hợp cho trồng lúa nước và cây trồng cạn ngắn ngày vào mùa khô.

dong_nai_3

Đất đen: diện tích 131.604 ha chiếm 22,43% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung thành các vùng lớn chủ yếu ở các huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, đất có hàm lượng mùn và đạm cao có thể sử dụng để phát triển nhiều cây trồng cho giá trị kinh tế cao.

 

Đất xám: diện tích 234.867 ha chiếm 40,04% diện tích tự nhiên, phân bố nhiều ở tất cả các huyện, trong đó tập trung với diện tích lớn ở các huyện Vĩnh Cửu, Long Thành và Nhơn Trạch. Đất có thể sử dụng để trồng nhiều loại cây trồng nếu cải tạo tốt.

 

Đất đỏ: diện tích 95.389 ha chiếm 16,26% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở các huyện Thống Nhất, Trảng Bom, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Định Quán. Đất có độ phì nhiêu khá cao thích hợp để phát triển nhiều cây công nghiệp. Ngoài ra còn có nhóm đất khác chiếm tỷ lệ nhỏ trong diện tích đất tự nhiên như đất cát có 613 ha (chiếm 0,1%); đất bị xói mòn trơ sỏi đá diện tích 3.180 ha ( chiếm 0,54%); đất phát triển trên đá phun trào 2.422 ha (chiếm 0,41%); đất nâu diện tích 11.377 ha (chiếm 1,94%) phân bố chủ yếu ở huyện Xuân Lộc, độ phì nhiêu thấp ít có tiềm năng để phát triển cây trồng; đất phù sa cũ bạc màu diện tích 139 ha chiếm (0,02%).

 

Nhìn chung đất đai Đồng Nai khá rộng rãi, có độ phì cao, vùng đất xám và bazan rộng lớn, thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và công nghiệp chế biến.

 

Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên nước: Đồng Nai có nguồn nước mặt khá dồi dào để cấp nước sinh hoạt và phát triển sản xuất do mạng lưới dòng chảy sông, suối tương đối dày, trung bình 0,5 – 1,2 km/km2 và có sông Đồng Nai, sông La Ngà chảy qua dài 220 km và 70 km. Sông Đồng Nai ngoài cấp nước cho sinh hoạt còn là tuyến đường thủy quan trọng trong tỉnh.

 

Nguồn nước ngầm có thể phục vụ cho khai thác nước công nghiệp không nhiều. Khu vực có khả năng khai thác lớn nhất tập trung ở nam Long Thành và bắc Biên Hòa, khả năng khai thác có thể đạt trên 10.000 m3 /ngày.

 

Nước khoáng nóng phát hiện được ở 5 điểm, trong đó điểm suối Nho có trữ lượng 10.000 m3 /ngày.

 

Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học: Thảm thực vật rừng ở Đồng Nai thuộc hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa mưa nhiều với hệ động – thực vật đa dạng về chủng loài. Các kiểu rừng tự nhiên cơ bản có kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kín nửa rụng lá nhiệt đới ẩm với các họ thực vật đặc trưng là tre, dẻ, kim giao, dầu, bằng lăng, bàng, điều tra cho thấy hiện có 614 loài thực vật thuộc 390 chi, 110 họ thuộc 70 bộ trong 6 ngành thực vật khác nhau. Động vật qua điều tra có 252 loài trong đó thú có 61 loài, chim có 120 loài, bò sát có 54 loài, lưỡng cư có 12 loài. Đặc biệt rừng Nam Cát Tiên còn giữ được nhiều loại động – thực vật quí hiếm như tê giác một sừng, bò Benteng, nai Catoong, hổ, báo, sóc, nai, công, trĩ. Đồng Nai có nguồn tài nguyên rừng phong phú, diện tích đất rừng hiện có 178.216 ha chiếm 30,36% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, trong đó diện tích đất có rừng là154.874ha gồm rừng tự nhiên có 110.117 ha, rừng trồng có 44.757 ha. Đây là điều kiện thuận lợi để tăng cường môi trường sinh thái, phát triển du lịch và khai thác rừng kinh tế.



Tin liên quan:

Tin mới hơn:

Tin cũ hơn:

 
© 2009 Vietnam Trade Promotion Agency - VIETRADE
 Web site này xem tốt nhất với trình duyệt Firefox