Thị trường đậu nành Việt Nam năm 2017 và dự báo năm 2018

VIETRADE - Sản lượng đậu nành của Việt Nam trong 6 tháng đầu vụ mùa 2016/17 ước tính đạt 69,6 nghìn tấn trên diện tích canh tác khoảng 44.900 hecta (ha). Sản lượng này tăng 18% so với cùng kỳ năm trước do năng suất tăng, mặc dù diện tích canh tác giảm 5,3%. Do đó, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) vẫn duy trì dự báo trước đây về sản lượng đậu nành của Việt Nam vụ mùa 2016/17 đạt 157 nghìn tấn trên diện tích canh tác 100.000 ha và vụ mùa 2017/18 đạt 168 nghìn tấn trên diện tích dự kiến ​​105.000 ha.

Nhìn chung, quy mô sản xuất đậu nành vẫn còn rất nhỏ so với các loại cây trồng khác và thấp hơn nhiều so với nhu cầu trong nước thấp, cũng như so với mục tiêu 2020 của Chính phủ Việt Nam được trình bày trong "Kế hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 2016-2020" là 265 nghìn tấn đậu nành trên diện tích canh tác 166 nghìn ha. Báo cáo ước tính sự thiếu tăng trưởng này do năng suất thấp, các vùng trồng không mở rộng và khả năng cạnh tranh kém với các loại cây trồng khác khiến người nông dân không mặn mà.

Sản lượng đầu nành

 

2014

2015

2016

2017

2018

T1-T6

Cả năm

T1-T6

(ước)

Cả năm

(ước)

Cả năm

Diện tích canh tác (nghìn ha)

110,2

100,8

47,4

94

44,9

100

105

Sản lượng (Tấn/ha)

1,43

1,45

1,49

1,57

1,55

1,57

1,6

Tổng sản lượng (nghìn tấn/ha)

157,9

146,4

58,9

147,5

69,6*

157

168

Nguồn: Tổng cục Thống kê (GSO), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, *Dự báo của Post

Theo Tổng cục Hải quan (GCO), trong 8 tháng đầu vụ mùa 2016/17, Việt Nam đã nhập khẩu 919 nghìn tấn đậu nành trị giá 392 triệu USD, giảm 8,6% về lượng và 6,4% về giá trị so với cùng kỳ của năm trước.

Tuy nhiên, theo dữ liệu kết hợp của Post từ Global Trade Atlas (GTA) và GCO, Việt Nam nhập khẩu 1.054 nghìn tấn đậu nành trong 8 tháng đầu năm 2016/17, tăng nhẹ 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Về thị phần nhập khẩu, 52% nhập từ Braxin, 22% từ Hoa Kỳ và 17% từ Singapore. Brazil trở thành nước xuất khẩu đậu nành lớn nhất thay thế Hoa Kỳ trong 8 tháng đầu năm 2017 do giá cả cạnh tranh.

Nhập khẩu Đậu nành theo tháng giai đoạn 2014-2017

 

2014

2015

2016

2017

Sản lượng (Nghìn Tấn)

Giá trị (triệu USD)

Sản lượng (Nghìn Tấn)

Giá trị (triệu USD)

Sản lượng (Nghìn Tấn)

Giá trị (triệu USD)

Sản lượng (Nghìn Tấn)

Giá trị (triệu USD)

Tổng cộng

1,564

913,2

1,707,19 

764,74

1,545,24 

660,36

918,72

391,93

 Tháng 1

159

92,2

115,8

57,9

173,09

69,9

94,75

42,53

 Tháng 2 

41

24,7

130,2

64

23,21

9,84

47,4

21,37

 Tháng 3

241

140,6

250,1

117,7

125,47

49,64

60,59

27,35

 Tháng 4

169

98,8

55

27,8

155,64

60,06

158,88

69,62

 Tháng 5

127

75,8

183,3

81,3

114,95

45,57

121,18

51,71

 Tháng 6

160

97,1

129,6

56

172,06

73,83

194,35

79,78

 Tháng 7

86

66,9

113,5

47,1

117,01

52,96

99,15

41,4

 Tháng 8

120

64,6

199,2

87

123,48

56,94

142,42** 

58,17**

 Cộng 

1.103

660.7

 1.176,

538.8

1.004,91 

418.74

918.72

1.103

Tháng 9 

65

39,2

94,7

42,4

116,13

53,65

-

-

Tháng 10 

110

62,7

95,02

41,1

177,83

76,81

-

-

Tháng 11  

117

61,6

164,7

70,04

39,67

19,77

-

-

Tháng 12 

169

89

176,07

72,4

206,7

91,39

-

-

Nguồn: Số liệu chính thức của Tổng cục Hải quan (GCO);

Ghi chú: *Số liệu ước tính từ  GCO; **Số liệu tháng 8 tính đến 15.8.2017

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) thay đổi dự báo về nhập khẩu đậu nành của Việt Nam trong vụ mùa 2015/16 từ 1,6 triệu tấn xuống còn 1,584 triệu tấn do số liệu nhập khẩu thay đổi (từ GTA), với 53,4% nhập khẩu từ Hoa Kỳ (so với 39% của năm trước), 20,8% từ Braxin, và số còn lại từ Ca-na-đa, Ac-hen-ti-na, Paraguay, Uzbekistan, Campuchia, Phi-líp-pin và các nước khác.

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cũng điều chỉnh dự báo trước đây đối với nhập khẩu đậu nành trong vụ mùa 2016/17 xuống còn 1,65 triệu tấn do một số yếu tố, bao gồm: (1) các nhà máy chế biến chính ở miền Bắc giảm nhu cầu; (2) sản xuất và tiêu dùng thức ăn chăn nuôi của Việt Nam suy giảm do giá thịt lợn giảm và xuất khẩu lợn sống sang Trung Quốc sụt giảm; và (3) Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực giảm số lượng đàn lợn trong năm 2017.

Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cũng dự báo nhu cầu của ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản đối với đồ ăn có đậu nành tươi giàu chất béo (FFSBM) ngày càng gia tăng, hoạt động của các nhà máy chế biến tại Việt Nam sẽ tăng nhẹ và nhu cầu của ngành chế biến thực phẩm sẽ tăng trong những năm tới. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) giữ nguyên ước tính nhập khẩu vụ mùa 2017/18 sẽ đạt 1,75 triệu tấn do một nhà máy chế biến mới ở miền Bắc dự kiến sẽ đi vào hoạt động. Bất kỳ sự gia tăng nào về công suất chế biến, hoặc việc mở rộng các nhà máy hiện có hoặc thông xây dựng mới, đều làm gia tăng mạnh nhập khẩu đậu nành.

Nhập khẩu đậu nành theo nước

Quốc gia

2012

2013

2014

2015

2016 (Mới)

2016* T1-T8

2017** T1-T8

Tổng kim ngạch (tấn):

1.462.71

1.290.70

1.564

1.707

1.584.4

1.036

1.054

Brazil

584,57

571,1

538,8

687

329,9

662

548

Hoa Ky

576,75

555,5

697,8

660

845,7

239

234

Ca-na-đa

122,39

36

65,6

107,9

100,4

45

68

Ac-hen-ti-na

98,96

66

151,6

175,8

89,6

9,1

0,445

Paraguay

57

10,1

56,5

11,4

80,6

81

1

Uzbekistan

n/a

n/a

n/a

n/a

67,4

-

-

Campuchia

n/a

n/a

n/a

31,6

28,3

-

-

Phi-líp-pin

n/a

n/a

n/a

n/a

23

-

-

Benin

n/a

n/a

n/a

n/a

n/a

-

13,78

Singapore

n/a

n/a

n/a

n/a

n/a

-

182,75

Các nước khác

23,03

52

53,7

33,3

19,5

-

6,4

Nguồn: GSO, GCO, số liệu của BICO, Global Trade Atlas (GTA); các nhà nhập khẩu trong nước

Ghi chú: Đậu nành (Mã HS: 1201); * Số liệu GTA; **Số liệu GTA và GCO; Số liệu T8 tính tới 15.8.2017




Nội dung liên quan:

Tin mới hơn:

Tin cũ hơn: