Thị trường cà phê Ấn Độ năm 2017

VIETRADE - Dự báo tổng sản lượng cà phê của Ấn Độ niên vụ 2017/18 là 5,6 triệu bao 60 kg với sản lượng Arabica đạt 1,4 triệu bao và Robusta 4,1 triệu bao. Theo Cục Khí tượng học Ấn Độ, lượng mưa trong các vùng trồng cà phê sau đợt gió mùa Tây Nam (tháng 9) cao hơn mức bình thường, trong khi mưa đầu mùa Đông Bắc bắt đầu giảm từ tháng 10 đến tháng 12.

Ủy ban Cà phê Ấn Độ thuộc Bộ Thương mại ước tính sản lượng cà phê niên vụ 2017/18 tăng 12% so với niên vụ 2016/17 do diện tích cây ra hạt gia tăng khoảng 13.500 ha. Theo đó, sản lượng cà phê Robusta dự báo sẽ tăng 14% (30.300 tấn), cà phê arabica tăng 9% (8.100 tấn) so với niên vụ trước.

Đối với niên vụ 2017/18, Ủy ban Cà phê Ấn Độ ước tính sản lượng là 5,84 triệu bao 60 kg (tương đương 350.400 tấn) trong dự báo sau khi nở. Theo một số nguồn thông tin thương mại, toàn niên vụ 2017/18 sản lượng cà phê Ấn Độ sẽ tăng 8-10.

Đối với niên vụ 2016/17, Ủy ban đã điều chỉnh ước tính cuối cùng về sản lượng cà phê Ấn Độ là 5.2 triệu bao (tương đương 312.000 tấn trong đó 95.000 tấn là cà phê Arabica và 217.000 tấn là cà phê Robusta).

Diện tích trồng cà phê ở các bang của Ấn Độ (đơn vị: ha)

Khu vực

 2014/15 

 2015/16 

2016/17* 

   

 Arabica 

 Robusta 

 Tổng

 Arabica 

 Robusta 

 Tổng

 Arabica 

 Robusta 

 Tổng

 Karnataka 

109.032

121.402

230.434

111.225

124.213

235.438

108,845

135,94

244,785

 Kerala 

4.203

81.253

85.456

4.217

81.284

85.501

4,228

81,642

85,87

 Tamil Nadu 

26.058

5.613

31.671

29.062

5.87

34.932

29,513

6,094

35,607

 Andhra Pradesh 

64.689

267

64.956

 71.280 (NTA) 

 267  (NTA) 

 71.547 (NTA) 

 75,237 (NTA) 

261

75,594

 Odisha 

4.14

 - 

4.14

 

         

 North Eastern Region 

5.34

1.273

6.613

5.595

1.423

7.018

5,903

1,598

7,501

 Total 

213.462

209.808

423.27

221.379

213.057

434.436

223,816

225,541

449,357

Nguồn: Bộ Công Thương, tháng 7 năm 2017

Tiêu thụ chậm nhưng triển vọng có nhiều dấu hiệu tích cực

Dự báo niên vụ 2017/18 tiêu thụ cà phê của Ấn Độ vẫn giữ ổn định của niên vụ trước với 1,2 triệu bao 60 kg (tương đương 72.300 tấn). Theo một số nguồn thông tin thương mại, các nhà sản xuất cà phê hòa tan đang điều chỉnh tỷ lệ cà phê để phù hợp với sở thích của người tiêu dùng trên khắp đất nước và để duy trì khả năng cạnh tranh về tài chính và thương mại. Các nguồn thương mại cho thấy mặc dù tỷ lệ tiêu thụ cà phê rang xay từ trước tới nay vẫn duy trì ở mức cao, nhưng tỷ lệ cà phê hoà tan trong những năm gần đây đã có sự vượt trội đáng kể, đặc biệt là ở miền bắc Ấn Độ.

Hàng trăm cửa hàng cà phê có ảnh hưởng của phong cách phương Tây đã xuất hiện trên khắp các thành phố lớn và nhỏ của Ấn Độ trong 10 năm vừa qua. Cà phê hiện đã có sức cạnh tranh với trà – thức uống đã từng chiếm ưu thế trong các quán cà phê - đặc biệt là những người tiêu dùng trẻ tuổi. Bên cạnh các chuỗi cửa hàng cà phê lớn, các thương hiệu cà phê thủ công đang nổi lên ở các thành phố lớn nhưng vẫn là một khu vực thích hợp vì cà phê được bán ở các quán cà phê này thường có giá cao.

Sự sẵn sàng tiêu dùng thực phẩm và đồ uống bên ngoài gia đình và việc gia tăng thu nhập khả dụng đã giúp cho tiêu thụ cà phê tăng trưởng trong những năm gần đây. Nhiều công ty đã nhắm mục tiêu tới đối tượng khách hàng là các chuyên gia trẻ; đặc biệt là phụ nữ, nhưng tốc độ mở rộng dường như đã chậm lại trong những năm gần đây.

Thương mại

Tháng 11 năm 2017, giá cà phê nhân Robusta Cherry tại Karnataka đã giảm 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá cà phê Arabica vẫn ổn định, trong khi giá Robusta đã giảm kể từ tháng 1 với các báo cáo về sản lượng cao hơn dự đoán ở các nước sản xuất cà phê chính khác.

Xuất khẩu cà phê niên vụ 2016/17 đã vượt quá ước tính chính thức của FAS là 5,5 triệu bao 60-kg. Lượng cà phê dự trữ lớn từ niên vụ 2016/17 đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cà phê hạt và cà phê hoà tan. Ý, Đức và Nga là những thị trường xuất khẩu cà phê xanh hàng đầu, trong khi Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Lan là thị trường xuất khẩu cà phê hoà tan trong niên vụ 2016/17.

Ấn Độ nhập khẩu cà phê nhân để tái xuất khẩu phần lớn là cà phê có xuất xứ từ Việt Nam, Uganda và Inđônêxia chiếm ưu thế do được miễn thuế và giá thấp.




Nội dung liên quan:

Tin mới hơn:

Tin cũ hơn: