Nghiên cứu đề xuất giải pháp xúc tiến xuất khẩu hàng hóa sang EU trong điều kiện thực thi EVFTA

Cùng với xu thế chung, Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng. Đặc biệt, nền kinh tế Việt Nam đã được những kết quả ấn tượng, cụ thể trong hoạt động xuất nhập khẩu. Theo Tổng cục Hải quan, kết thúc năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước lập kỷ lục mới khi đạt con số 517,26 tỷ USD, tăng 7,6% (tương ứng tăng 36,69 tỷ USD) so với năm 2018. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4% và nhập khẩu đạt 253,07 tỷ USD, tăng 6,8%. Mặc dù phải đối mặt với những diễn biến bất ổn của thương mại toàn cầu và đại dịch Covid-19, xuất nhập khẩu hàng hóa 10 tháng đầu năm 2020 của Việt Nam tiếp tục giữ mức tăng trưởng dương đạt 440,09 tỷ USD, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2019[1].
Liên minh châu Âu (EU) là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau Mỹ trong năm 2019. Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và EU (28 nước, bao gồm cả Vương quốc Anh) đạt 56,4 tỷ USD trong năm 2019, chiếm gần 11% tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Trong đó, tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang EU trong năm 2019 đạt 41,5 tỷ USD, chiếm 15,7% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu từ EU về Việt Nam đạt 14,9 tỷ USD, chiếm 5,9% tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển nên quan hệ thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU có tính bổ sung cao, ít cạnh tranh. Ngày 30/6/2019, Việt Nam – EU đã chính thức ký Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) sau khi kết thúc đàm phán từ cuối năm 2015. Sự kiện này đã tạo ra một bước tiến mới đầy triển vọng của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam.
Tuy vậy, tương tự như các quốc gia đang phát triển, Việt Nam mới chỉ đạt thành tựu xuất khẩu về mặt sản lượng, còn hàm lượng giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu rất thấp. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực đối với cả Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) từ ngày 1/8/2020 đã mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường rộng lớn này. Đây được coi là một trong những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới toàn diện, chất lượng cao với mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong số các FTA đã được ký kết.
EU là thị trường rất tiềm năng với 27 nền kinh tế và dân số khoảng 500 triệu người. Về thuận lợi, có thể thấy rõ ràng nhất là cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ trong Hiệp định EVFTA sẽ tạo động lực lớn cho tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam có lợi thế cạnh tranh. Báo cáo của Ngân hàng thế giới công bố mới đây đưa ra dự báo khi thực hiện đầy đủ các cam kết trong hiệp định này, GDP của Việt Nam có thể tăng thêm 2,4%, xuất khẩu tăng 12% vào năm 2030. Đi cùng với EVFTA sẽ là Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA), với thị trường mở cửa và thông thoáng hơn, các doanh nghiệp châu Âu sẽ tăng cường đầu tư vào Việt Nam, tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nhiều nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu cũng như các máy móc, thiết bị, công nghệ/ kỹ thuật cao từ EU với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý, qua đó để nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm xuất khẩu của mình.
Đối với Việt Nam, theo các chuyên gia kinh tế, EVFTA có hiệu lực sẽ cơ cấu lại các mặt hàng xuất nhập khẩu, đầu tư, giúp Việt Nam tạo thế chủ động về thị trường và chuỗi cung ứng đa dạng, giảm rủi ro về gián đoạn trong thương mại và chuỗi cung ứng do thay đổi các mối quan hệ thương mại, biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Để khai thác được tiềm năng, cơ hội tại thị trường EU trong bối cảnh thực thi EVFTA, hoạt động XTTM, xúc tiến xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ cần phải có những điều chỉnh, kế hoạch cụ thể cho những mục tiêu ưu tiên trước mắt cũng như lợi ích dài hạn, gắn với đổi mới cách tiếp cận và phương thức triển khai để đảm bảo nâng cao hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới. Đề tài nghiên cứu này nhằm mục tiêu nhìn lại các phương thức xúc tiến thương mại đã và đang triển khai tại thị trường châu Âu của một số đơn vị chủ trì. Trên cơ sở đó, đề xuất các hướng và giải pháp điều chỉnh và triển khai hiệu quả XTTM hiệu quả hơn, tiếp cận tốt hơn vào thị trường EU.

Chi tiết báo cáo tham khảo tại đây.