QĐ 80 đã sửa đổi, bổ sung trên nguyên tắc: (1) Nhà nước hỗ trợ đi đôi với việc các DN tham gia Chương trình đóng góp vốn đối ứng; (2) Quản lý có hiệu quả nguồn kinh phí hỗ trợ của Nhà nước; (3) Đơn giản hoá thủ tục cho đơn vị chủ trì và DN hưởng lợi. Nguyên tắc đó được thể hiện bằng một số nội dung chính:
1. Thêm đối tượng. Bổ sung "các tổ chức XTTM" vào đối tượng tham gia thực hiện Chương trình. Theo đó, các tổ chức XTTM (bao gồm cả các đơn vị chủ trì) sẽ được hỗ trợ khi tham gia chương trình XTTM quốc gia của các đơn vị chủ trì khác. Điều này tạo điều kiện cho các tổ chức XTTM thuộc các địa phương, các ngành hàng đại diện cho các DN thuộc phạm vi ảnh hưởng của mình có nhiều cơ hội tham gia vào hoạt động XTTM quốc gia. Chính điều này tạo điều kiện cho các đại phương, ngành hàng tập hợp các DN khuyếch trương cho sức mạnh của địa phương. Từ sức mạnh của mỗi địa phương, từng ngành hợp sức tạo ra sức mạnh tổng hợp liên vùng, liên ngành, .
Đồng thời, Bộ Trưởng Bộ Công Thương được xem xét trình Thủ tướng chính phủ phê duyệt các đề án XTTM của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hỗ trợ từ ngân sách trung ương. Đây là cơ hội cho các địa phương có các mặt hàng nằm trong danh mục hàng XK trọng điểm của cả nước cần được hỗ trợ qua XTTM, phát huy tiềm năng, thế mạnh, đem lại hiệu quả về kinh tế-xã hội cả vùng. Cũng từ đó cơ quan XTTM địa phương vươn lên đủ năng lực chủ trì các hoạt động trong các đề án XTTM tầm quốc gia.
2. Tăng quyền chủ động. Bản thân việc tăng thêm đối tượng đã thể hiện chủ ý này. Song trong QĐ 80 còn nói rõ: Ủy ban Nhân dân địa phương căn cứ vào Quy chế Chính phủ đã ban hành, có trách nhiệm xây dựng các nội dung XTTM với mức hỗ trợ kinh phí được thu xếp từ ngân sách địa phương và các nguồn tài chính hợp pháp khác phù hợp với thực tế địa phương.
3. Thêm nội dung hỗ trợ. Ngoài các nội dung đã được hỗ trợ theo QĐ 279, trong QĐ mới bổ sung ba loại hình được hỗ trợ: (1) hỗ trợ các DN tiếp xúc với các nhà nhập khẩu nước ngoài vào Việt Nam; (2) tổ chức hội nghị ngành hàng XK tại Việt Nam và (3) các tác nghiệp mở rộng thị trường đối ngoại cũng như tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa...
4. Tăng mức Hỗ trợ. Mức hỗ trợ cao hơn mức hiện hành như: hỗ trợ 100% chi phí đào tạo, tập huấn trong và ngoài nước về XTTM đối với cán bộ của các tổ chức XTTM nhằm phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cho hệ thống XTTM trên toàn quốc; hỗ trợ 100% chi phí tuyên truyền quảng bá mời khách nước ngoài đến giao dịch nhân các sự kiện XTTM quốc gia của Việt Nam tại nước ngoài như hội chợ triển lãm, các đoàn giao thương, giúp DN Việt Nam tranh thủ thời gian ở ngoài nước, tiếp xúc với các đối tác.
Những nét đổi mới là thuyết phục, vừa phù hợp với yêu cầu chung vừa đáp ứng đòi hỏi cấp thiết giai hiện nay, khuyến kích các đối tượng tham gia Chương trình, đặc biệt là các DN.
Làm gì để đổi mới thành hiện thực ?
Trong thực tế, hoạt động XTTM ngày càng cần dự trù kinh phí lớn nhất là kinh phí phát sinh khi tiến hành từng sự kiện. Dù kinh phí hỗ trợ của Nhà nước có tăng cũng chỉ xem sự khai phát, điểm nhấn ban đầu, mà không thể "tưới nhuần" toàn bộ. Vậy theo phương châm "DN chung lưng gánh vác với Nhà nước", mỗi đơn vị tham gia Chương trình phải chủ động có khoản đối ứng thích đáng để đủ "đô" cho yêu cầu từng sự kiện XTTM.
Khi xét duyệt các đề án do các đơn vị đề xuất, không dàn trải, ưu ái theo lối mòn mà phải sàng lọc để chọn những đề án trọng điểm, vừa thiết thực, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt và dành lưng vốn khơi dậy nguồn lực tương lai. Theo đó, việc lựa chọn các đề án cần theo định hướng sau:
Theo phương châm đa dạng hoá thị trường, tiếp tục hỗ trợ duy trì thị phần tại các thị trường lớn, thị trường truyền thống, thị trường láng giềng, các nền kinh tế mới nổi đi đôi với việc tranh thủ vào các thị trường ít chịu tác động của đợt suy giảm kinh tế toàn cầu ít.
Để góp phần thực hiện chủ trương của Nhà nước quan tâm đến việc giữ vững, phát triển thị trường nội địa, cần có các đề án triển khai thực hiện "Chương trình XTTM thương mại nội địa", hỗ trợ các DN đứng vững trên sân nhà bằng các Chương trình đưa hàng về nông thôn, Chương trình truyền thông kêu gọi người Việt Nam tin dùng hàng Việt Nam v.v... .
Lại cần có các đề án mang tính "bổ trợ", đó là những án về hỗ trợ các đơn vị xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác phổ biến/cung cấp thông tin, cập nhật, phân tích, dự báo của quốc tế, từng ngành hàng, đưa ra các quyết định phù hợp với diễn biến của thương trường; tuyên truyền về hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam; đào tạo kỹ năng, kiến thức XTTM, kinh doanh quốc tế..., làm giàu hành trang của các DN trong hành trình hội nhập kinh tế.
Nhằm ứng xử linh hoạt trước các biến động của các thị trường và từ mỗi ngành hàng, việc phê duyệt các đề án trong một năm có thể tiến hành từng đợt. Thấu suốt tinh thần đó, ngay trong năm 2009 đã phê duyệt thành 3 đợt. Đợt 1 gồm 44 đề án của 21 đơn vị chủ trì, với tổng kinh phí Nhà nước hỗ trợ là 62,64 tỷ đồng. Các chỉ số tương ứng của Đợt 2: 53 đề án, 24 đơn vị, 65,96 tỷ đồng. Đợt 3 đang được xem xét để hỗ trợ DN đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá trong lúc khó khăn này.
Ban hành được quyết định đã là quan trọng, song quan trọng hơn là tổ chức thực hiện để QĐ 80 ăn nhập vào thực tế. Cục XTTM càng phải phát huy vai trò Ban Thư ký của Chương trình, tiếp tục phối hợp với các Tổ chức thuộc hệ thống XTTM ở trong và ngoài nước hỗ trợ các đơn vị triển khai, đi đôi với việc giám sát quá trình triển khai. Đồng thời, QĐ 80 cũng trao thêm quyền chủ động cho cơ sở đồng nghĩa với việc phải trang bị thêm «khí tài», nâng cao năng lực «tác chiến» của các tổ chức XTTM thuộc hệ thống XTTM. Đây chính là điều đã được đặt ra, nay càng trở nên cấp bách.