Ngày 21/5/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 80/2009/QĐ-TTg (QĐ 80) sửa đổi. bổ sung một số điều của Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình Xúc tiến thương mại (XTTM) quốc gia giai đoạn 2006-2010 ban hành kèm theo Quyết định 279/2005/QĐ-TTg ngày 03/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ (QĐ 279). QĐ 80 có gì mới ?
Qua hai chặng đường - Kết quả đáng ghi nhận
Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ số 05/2002/NQ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2002 về một số giải pháp để triển khai thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2002, ngày 27 tháng 9 năm 2002, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 86/2002/TT-BTC hướng dẫn chi hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) đẩy mạnh xuất khẩu (XK) và Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) ban hành Quy chế xây dựng và quản lý Chương trình XTTM trọng điểm quốc gia (Chương trình) kèm theo Quyết định số 0104/2003/QĐ-BTM ngày 24 tháng 01 năm 2003. Chương trình được khai sinh.
Như vậy, lần đầu tiên hoạt động XTTM được định hướng, có trọng tâm về mặt hàng và thị trường, cơ bản khắc phục được tình trạng tổ chức các hoạt động mang tính tự phát trong cộng đồng doanh nghiệp (DN). Chính sách hỗ trợ của Nhà nước thông qua các Chương trình hàng năm cũng góp phần tạo lập vị thế, vai trò cho các Hiệp hội ngành hàng trong cộng đồng DN, huy động được mọi nguồn lực tham gia vào công tác XTTM.
Tuy nhiên, quá trình tổ chức, quản lý và điều phối Chương trình 3 năm (2003 -2005) cũng bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là cơ chế và định mức hỗ trợ của Nhà nước đối với một số hạng mục rườm rà, không thuận cho DN tiếp cận với nguồn vốn hỗ trợ. Quy định về số nội dung các hoạt động XTTM được xem xét hỗ trợ đề cập không cụ thể, dễ gây cách hiểu khác nhau. Do những hạn chế trong giai đoạn sơ khởi, nên bước vào giai đoạn mới, bằng Quyết định số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03/11/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành "Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia giai đoạn 2006-2010". Chương trình được cải biến theo QĐ 279 có 4 mục tiêu: (1) Tăng cường hoạt động XTTM, phát triển thị trường XK; (2) Tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất cho XTTM; (3) Góp phần nâng cao năng lực kinh doanh cho DN; (4) Gắn kết 3 loại hình xúc tiến thương mại - đầu tư - du lịch.
Qua ba năm (2006 - 2008) thực hiện Chương trình theo QĐ 279, đã lượng hoá kết quả bằng các dữ liệu sau: Năm 2006, Chương trình đã hỗ trợ 4.515 lượt DN tham gia hưởng lợi; có 1.174 hợp đồng, thoả thuận, bản ghi nhớ (HĐ) được ký với tổng trị giá hơn 86 triệu USD. Tương tự, năm 2007, các chỉ số là: 4.518 lượt DN - 2.328 HĐ - hơn 905 triệu USD, năm 2008, các chỉ số đó cao, cao nhất từ trước đến nay: 4.600 lượt DN - 2.530 HĐ - 1.328,75 triệu USD. Sau các sự kiện đó, còn tiếp nối nhiều giao dịch, thiết lập quan hệ tiến tới HĐ. Điều đó đã góp phần duy trì tăng trưởng XK ở mức cao trong các 3 năm đó, lần lượt là: 22,1%, 20,5% và 29,5% và "giành vốn" cho những năm tiếp theo.
Vì sao cần đổi mới ?
Dù QĐ 279 đã được xem là có cải biến, song qua 3 năm (2006 - 2008) thực hiện đã bộc lộ một số bất cập ở những khía cạnh khác, nhất là phải ứng phó trước những biến động của tình hình mới:
Thiên về hỗ trợ một số hoạt động XTTM truyền thống (khảo sát thị trường, hội chợ triển lãm, thông tin thương mại...), chưa khuyến khích những hoạt động XTTM mới vừa hiệu quả vừa tiết kiệm chi phí cho nhà nước như: hỗ trợ mời nhà nhập khẩu nước ngoài vào Việt Nam, hỗ trợ chuỗi hoạt động để phát triển theo từng ngành hàng, từng thị trường v.v...
Nội dung hỗ trợ chưa hoàn thiện, ví dụ: hỗ trợ chi phí tổ chức các sự kiện XTTM nhưng không hỗ trợ chi phí mời khách tới các sự kiện trên để giao dịch thương mại vì thế hạn chế hiệu quả của các sự kiện đó. Có thể ví đó như "làm được cỗ nhưng ngại mời khách".
Chưa có quy định cụ thể về thời hạn cấp tạm ứng kinh phí hỗ trợ cho các Hiệp hội ngành hàng sau khi Chương trình được phê duyệt. Nhiều Hiệp hội phải huy động DN tạm ứng 100% kinh phí trước rồi mới quyết toán sau khi thực hiện xong Chương trình. Thường các sự kiện XTTM vào đầu năm ít được tổ chức do có ngay kinh phí, trong khi đó nhiều hoạt động XTTM lại cần diễn ra ngay từ đầu năm, nhằm sớm đạt được HĐ, có thể thực thi vào các quý tiếp theo. Điều này ảnh hưởng đến sự chủ động của các đơn vị tham gia Chương trình, giảm chất lượng của các hoạt động XTTM.
Từ tháng 9/2008, nguồn kinh phí hỗ trợ cho chương trình XTTM quốc gia được thực hiện trực tiếp từ ngân sách nhà nước thay cho nguồn từ Quỹ hỗ trợ XK, nên cần có quy định mới về quy trình, thủ tục hỗ trợ kinh phí cho Chương trình, cũng như hướng dẫn các Tỉnh/thành phố về nguồn kinh phí và cơ chế tài chính cho hoạt động XTTM của địa phương.
Hàng năm, có một số hoạt động XTTM tại địa phương, của từng ngành tương xứng tầm quốc gia như Lễ hội mặt hàng trọng yếu, hội chợ thương mại quốc tế các Vùng kinh tế trọng điểm v.v... nhưng hiện chưa có cơ chế hỗ trợ địa phương, Hiệp hội ngành hàng bằng Chương trình.
Hơn thế nữa, trước bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế đều đưa ra chính sách hỗ trợ cấp bách giúp DN vượt qua khó khăn, trong đó có cơ chế về hỗ trợ qua XTTM. Việt Nam chẳng những không là ngoại lệ, mà hàm lượng của các giải pháp đó càng phải đậm đặc, quyết liệt.
Đáp ứng những thúc bách đó, với sự đồng thuận của các ngành hữu quan, Bộ Công Thương đã đề xuất và được Chính phủ phê duyệt sửa đổi, bổ sung QĐ 279 bằng QĐ 80.