Language: English
Tình hình sản xuất mặt hàng ngô của Việt Nam năm 2016 và dự báo năm 2017 In
Thứ năm, 24 Tháng 3 2016 17:20
VIETRADE - Ngô là loại cây nông nghiệp có diện tích thu hoạch lớn thứ hai tại Việt Nam sau lúa gạo. Tuy nhiên, ngô lại chỉ được trồng ở những khu vực không có lợi cho việc trồng cây công nghiệp, ví dụ như các khu vực miền núi đất đai cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng hay những vùng đất khô hạn, thiếu nước tưới tiêu hoặc trồng xen canh với những cây trồng giá trị cao khác. Do ngô chủ yếu được gieo trồng trong điều kiện không thuận lợi nên sản lượng mặt hàng này của Việt Nam đang rất thấp. Hơn nữa, côn trùng và các loài gây hại cho cây ngô cũng là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sản lượng.

Cùng với khoai mì, gạo vỡ, cám gạo, ngô là một trong những cây trồng chính cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi phát triển. Tuy nhiên, các sản phẩm từ ngô ở trong nước lại không đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong những năm gần đây khiến kim ngạch nhập khẩu ngô nước ta hàng năm luôn ở mức 2 triệu tấn. Vì thế, các nhà chế biến ngô phải chịu áp lực lớn trong việc tăng sản lượng nhằm đáp ứng nhu cầu tăng lên nhanh chóng của thị trường. Tăng năng suất trung bình bằng việc sử dụng các giống cây trồng năng suất cao được xem là phương án phù hợp nhất để đạt được mục tiêu của chính phủ trong việc tăng sản lượng ngô đáp ứng nhu cầu ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

 

Theo Bộ NN & PTNT, sản lượng ngô của Việt Nam trong năm 2015 đạt 5,28 triệu tấn, giảm 34.000 tấn so với dự báo do diện tích gieo trồng hạn chế, năng suất thấp do thời tiết bất lợi ở miền Bắc và giá ngô quốc tế thấp.

 

Diện tích thu hoạch trong năm 2016 ước đạt 1,3 triệu héc-ta, giữ nguyên so với những dự báo từ trước của Bộ. Đây là kết quả của chính sách chuyển đổi sang trồng ngô tại những vùng mà việc trồng lúa cho năng suất thấp. Tuy nhiên, do giá ngô trên thị trường quốc tế thấp nên diện tích thu hoạch ngô trong năm 2017 của Việt Nam sẽ vẫn giữ nguyên ở mức 1,3 triệu héc-ta. Với việc các giống ngô biến đổi gen dần dần được sử dụng, năng suất ngô trung bình trong năm 2016 và 2017 được dự kiến lần lượt đạt khoảng 4,6 và 4,8 tấn/ha. Nhìn chung, sản lượng ngô tăng chủ yếu là nhờ năng suất trung bình cao hơn. Khi năng suất ngô trung bình tăng đến mức nhất định, người nông dân có thể bị thuyết phục rằng trồng ngô sẽ mang đến nhiều lợi nhuận cho họ.

 

Sản lượng ngô của Việt Nam trong năm 2015, 2016 và dự báo năm 2017

 

Đơn vị

2015

2016

(ước tính)

2017

(dự báo)

Diện tích thu hoạch

nghìn ha

1.179

1.300

1.300

Năng suất

tấn/ha

4,48

4,6

4,8

Sản lượng

nghìn tấn

5.281

5.980

6.240

Nguồn: Bộ NN & PTNT


Tháng 3 năm 2015, Cục trồng trọt, Bộ NN & PTNT đã cho phép sản xuất thương mại ba giống ngô biến đổi gien. Đây là bước cuối cùng trong quá trình phê duyệt quyết định thương mại hóa ngô sử dụng công nghệ sinh học của Việt Nam. Cũng trong tháng 4 năm 2015, việc chấp thuận giống ngô biến đổi gien đã giúp Việt Nam trở thành quốc gia thứ 29 trên thế giới thương mại hóa cây trồng sử dụng công nghệ sinh học.

 

Bảng dưới đây sẽ cung cấp thông tin về diện tích trồng ngô theo địa lý vùng miền. Trung du và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên lần lượt là hai khu vực dẫn đầu về diện tích trồng ngô.

 

 

2011

2012

2013

2014

Cả nước

1.121,3

1.156,6

1.170,4

1.177,5

Đồng bằng châu thổ sông Hồng

96,0

86,4

88,3

88,7

Trung du và miền núi Bắc Bộ

465,7

502,0

504,5

514,7

Bắc Trung Bộ

207,6

121,4

206,0

207,9

Tây Nguyên

232,6

246,9

251,7

248,2

Đông Nam Bộ

78,7

79,3

79,8

80,0

Đồng bằng châu thổ sông Mê-kông

40,7

39,6

40,1

38,0

Nguồn: Tổng cục thống kê


Diện tích trồng ngô vẫn tăng đều nhưng không thay đổi đáng kể theo thời gian. Đây là kết quả của chính sách khuyến khích trồng ngô để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi tại địa phương mà chính phủ đã đề ra. Tuy nhiên, ngô trong nước đang phải đối mặt với những thách thức cạnh tranh về giá từ những nước sản xuất ngô lớn như Ấn Độ, Ác-hen-ti-na và Bra-xin.

 

2014/2015

2015/2016

2016/2017

Thời điểm bắt đầu

T5/2013

T7/2014

T7/2015

Số liệu chính thức từ USDA

Số liệu mới

Số liệu chính thức từ USDA

Số liệu mới

Số liệu chính thức từ USDA

Số liệu mới

Tổng diện tích gieo trồng

1.180

1.179

1.300

1.300

 

 

1.300

Hàng dự trữ đầu vụ

724

724

1.004

1.033

 

1.100

Sản lượng

5.280

5.281

6.000

5.980

 

6.240

Nhập khẩu theo vụ mùa

3.500

4.908

3.000

7.300

 

6.000

Nhập khẩu theo năm tài chính

3.500

6.700

3.000

6.900

 

6.000

Nhập khẩu từ Hoa Kỳ

6

5

0

0

 

0

Tổng cung

9.504

10.913

10.004

14.313

 

13.340

Xuất khẩu theo vụ mùa

500

500

500

500

 

500

Xuất khẩu theo năm tài chính

500

500

500

500

 

500

Tiêu thụ trong chăn nuôi và mục đích khác

6.700

8.080

7.000

11.313

 

10.240

Tiêu thụ làm thực phẩm, hạt giống và sản xuất công nghiệp

1.300

1.300

1.400

1.400

 

1.500

Tổng mức tiêu thụ

8.000

9.380

8.400

12.713

 

11.740

Dự trữ cuối vụ

1.004

1.033

1.104

1.100

 

1.100

Tổng sản lượng phân phối

9.504

10.913

10.004

14.313

 

13.340

Đơn vị: 1.000 héc-ta (diện tích) và 1.000 tấn


Khu vực miền Nam, chủ yếu gồm các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thường chỉ trồng một vụ ngô mỗi năm, bắt đầu từ giữa tháng 5. Các khu vực phía Bắc, chủ yếu là đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và khu vực ven biển miền Trung có từ 2 đến 3 vụ ngô mỗi năm: vụ Xuân, vụ Thu và vụ Đông. Theo Bộ NN & PTNT, vụ Xuân bắt đầu từ nửa đầu tháng 2 đến nửa cuối của tháng 5; vụ Thu bắt đầu từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 9 và vụ Đông bắt đầu từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 1 năm sau.

 

Phân bổ diện tích trồng ngô phía Bắc Việt Nam năm 2010

 

Vụ mùa

Tổng cộng

Vụ Xuân

Vụ Thu

Vụ Đông

Đồng bằng châu thổ sông Hồng

32,560

12,000

53,040

97,600

Bắc Trung Bộ

48,920

34,380

52,000

135,300

Trung du và miền núi Bắc Bộ

286,52

173,448

-

460,000

Tổng cộng

368,920

219,448

105,040

692,900


Dự kiến phân bổ diện tích trồng ngô phía Bắc Việt Nam giai đoạn 2015-2020

 

Vụ mùa

Tổng cộng

Vụ Xuân

Vụ Xuân

Vụ Xuân

Đồng bằng châu thổ sông Hồng

40,000

10.000

65.000

115.000

Bắc Trung Bộ

50,000

35.000

80.000

165.000

Trung du và miền núi Bắc Bộ

300,000

180.000

40.000

520.000

Tổng cộng

390,000

225.000

145.000

800.000

Nguồn: Bộ NN & PTNT


Giá ngô trong nước

Giá ngô trong nước đã liên tục giảm và chạm mức thấp nhất vào tháng 9 năm 2015 do lượng ngô nhập khẩu sụt giảm. Ngoài ra, giá ngô trong nước luôn cao hơn giá nhập khẩu từ các thị trường Nam Mỹ. Đây là nguyên nhân khiến nước ta nhập khẩu một lượng lớn ngô từ khu vực này.

 

Nguồn: Văn phòng đại diện Grain Council tại Việt nam


Tin mới hơn:

Tin cũ hơn:

 
© 2009 Vietnam Trade Promotion Agency - VIETRADE
 Web site này xem tốt nhất với trình duyệt Firefox