Language: English
Tổng quan kinh tế thương mại của Xri Lan-ca In
Thứ năm, 14 Tháng 7 2011 22:24

VIETRADE - Xri Lan-ca là nước tiên phong trong khu vực Nam Á tiến hành cải tổ nền kinh tế. Năm 1977, Xri Lan-ca từ bỏ chính sách tập trung, thay thế nhập khẩu bằng chính sách mở cửa thị trường, hướng tới xuất khẩu và khuyến khích đầu tư nước ngoài. Trong khoảng thời gian từ năm 1983 đến năm 2009, Xri Lan-ca chịu ảnh hưởng nặng nề do nội chiến. Tuy vậy, mức tăng trưởng GDP của nước này vẫn đạt trung bình 5% trong vòng 10 năm qua.

 

Chính phủ Xri Lan-ca chủ trương phát triển kinh tế - xã hội công bằng và hài hoà và tập trung xây dựng nền kinh tế Xri Lan-ca tự cường. Hiện Xri Lan-ca là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất khu vực Nam Á (chỉ sau Man-đi-vơ và Bu-tan). Năm 2009, mức tăng trưởng đạt 3,5% bất chấp ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

 

Các lĩnh vực phát triển năng động nhất của nền kinh tế bao gồm: chế biến thực phẩm, dệt may, thức ăn và đồ uống, xây dựng cảng, viễn thông, bảo hiểm và ngân hàng. Có khoảng 1,5 triệu người Xri Lan-ca đang làm việc ở nước ngoài, trong đó gần 90% làm việc tại Trung Đông. Hàng năm, lực lượng lao động này gửi về nước hơn 3 tỷ USD.

 

Năm 2010, tổng thống Rajapaksa tái đắc cử, đồng nghĩa với việc Chính phủ sẽ vẫn tiếp tục chính sách mở cửa kinh tế với mục tiêu giảm nghèo bằng việc tập trung đầu tư vào những vùng kém phát triển, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cải thiện nông nghiệp và mở rộng hơn nữa khu vực dịch vụ trong nước. Sau cuộc xung đột kéo dài 26 năm với Lực lượng những con hổ giải phóng Tamil, chính phủ hiện nay đang bắt tay vào việc tái thiết và phát triển các dự án ở phía Bắc và Đông đất nước. Tuy vậy, đây là nhiệm vụ khó khăn vì chính phủ đang chịu mức thâm hụt ngân sách lớn và phải trả lãi suất cao cho những khoản vay tín dụng. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 cũng gây ra khủng hoảng về cán cân thanh toán của Xri Lan-ca khiến Quỹ Tiền tệ Quốc tế phải trợ giúp cho nước này 2,6 tỷ USD. Nội chiến kết thúc cùng khoản vay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã giúp khôi phục lòng tin của các nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán Xri Lan-ca là một trong những thị trường hoạt động tốt nhất năm 2009 với mức tăng 100%. Dự trữ ngoại tệ năm 2009 tăng lên hơn 5 tỷ USD.

 

Cơ cấu nền kinh tế theo khu vực

Nông nghiệp: Chỉ chiếm khoảng 12,6% tổng GDP của Xri Lan-ca. Các sản phẩm nông nghiệp chính bao gồm: gạo, mía, dừa, đậu, ngũ cốc, gia vị, rau quả, chè, cao su, sữa, trứng, thịt bò, cá, da thú.

 

Công nghiệp: Có tỷ trọng lớn hơn nông nghiệp, chiếm 29,7% GDP, tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu như dệt may, chế biến cao su, chè, dừa, thuốc lá, sản xuất thiết bị cho ngành viễn thông, sản xuất xi măng, lọc dầu, xây dựng, đóng và sửa chữa tàu biển.

 

Dịch vụ: Là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP, chiếm 57,7%. Các dịch vụ chủ yếu bao gồm du lịch, dịch vụ công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.

 

Bảng 1: Một số chỉ số kinh tế của Xri Lan-ka

Chỉ số kinh tế

2005

2006

2007

2008

2009

Thu nhập bình quân đầu người (USD)

1.200

1.350

1.540

1.780

1.967

Tăng trưởng GDP (%)

6,2

7,7

6,8

6,0

3,5

Chỉ số giá tiêu dùng (%)

11

10

15,8

22,6

3,5

Tỷ lệ thất nghiệp (%)

7,2

6,5

6,0

5,4

5,9

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu (%)

10,2

8,5

11,0

6,5

-12,9

Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu (%)

10,8

15,7

10,2

24,0

-29,4

Nợ nước ngoài (% thu nhập quốc dân)

47,1

43,8

44,5

37,9

 

Nguồn: Các chỉ số phát triển 2010-Ngân hàng thế giới


Tình hình phát triển thương mại

Xri Lan-ka bắt đầu thực hiện chính sách tự do thương mại vào cuối những năm 70, sớm nhất trong số các nước khu vực Nam Á. Kể từ đó Xri Lan-ka đã áp dụng tỷ giá trao đổi thống nhất dưới một hệ thống “thả nổi có kiểm soát”, sau đó thả nổi hoàn toàn vào tháng 1 năm 2001. Mức thuế trung bình được coi là thấp giờ đã tăng lên trong những năm gần đây và mức độ bảo hộ với nông nghiệp vẫn còn cao. Hầu hết hạn ngạch nhập khẩu đã được dỡ bỏ trong khoảng thời gian những năm 80, và cho đến cuối những năm 90 chỉ còn một số hạn ngạch áp dụng cho hàng công nghiệp và nông nghiệp. Tuy nhiên, đến năm 1998, tất cả hạn ngạch đã được dỡ bỏ theo quy định của Tổ chức Thương mại thế giới.

 

Bảng 2: Tình hình xuất nhập khẩu của Xri Lan-ka

Đơn vị tính: Tỷ USD

 

2005

2006

2007

2008

2009

2010

(Dự tính)

Xuất khẩu

6,9

7,6

8,1

7,1

7,8

8,6

Nhập khẩu

10,3

11,3

14,1

10,2

11,8

12,6

Nguồn: Số liệu kinh tế-xã hội 2009, Ngân hàng Trung ương Xri Lan-ca.


Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Sri lan-ka bao gồm: hàng dệt may, chè, cao su, dừa, gia vị, kim cương, thủy sản.

 

Bảng 3: Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa Xri Lan-ca

Đơn vị: triệu USD

Ngành hàng/mặt hàng

2004

2005

2006

2007

2008

Xuất khẩu nông sản

Chè

Cao su

Dừa

Nông sản khác

1.065

739

51

113

162

1.154

810

47

113

183

1.293

881

93

124

195

1.507

1025

109

141

232

1.855

1272

125

171

287

Xuất khẩu hàng công nghiệp

Sản phẩm dệt may

Sản phẩm xăng dầu

Sản phẩm công nghiệp khác

4.506

2.809

100

1.597

4.948

2.895

131

1.922

5.401

3.080

188

1.873

5.967

3.340

169

2.458

6.160

3.469

255

2.436

Xuất khẩu khoáng sản

Đá quý

Khoáng sản khác

120

109

12

143

120

23

120

103

17

128

106

22

122

101

21

Hàng hóa khác (Bao gồm tái xuất)

66

101

69

38

….

Tổng số

5.757

6.347

6.883

7.640

8.137

Nguồn: Số liệu kinh tế-xã hội 2009, Ngân hàng Trung ương Xri Lan-ca.


Các đối tác xuất khẩu chủ yếu của Xri Lan-ka bao gồm Mỹ (22,1%), Anh (12,1%), Đức (5,2%), Bỉ (4,9%), Ý (4,8%), Ấn Độ (4,5%).

 

Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Sri lan-ka bao gồm sợi dệt, khoáng sản, xăng dầu, thực phẩm, máy móc và thiết bị vận tải.

 

Bảng 4: Cơ cấu nhập khẩu hàng hóa Xri Lan-ca

Đơn vị: triệu USD

Ngành hàng/mặt hàng

2004

2005

2006

2007

2008

Hàng tiêu dùng

Gạo

Bột mỳ

Đường

Sữa và các sản phẩm sữa

1.440

59

1

111

122

1.503

16

32

132

133

1.782

6

3

224

171

1.768

39

2

154

187

2.174

44

1

206

296

Hàng hóa trung gian

Phân bón

Xăng dầu

Sợi dệt

Hạt lúa mỳ và lúa mạch đen

4.828

107

1.209

1.514

183

5.458

135

1.655

1.531

141

6.161

164

2.070

1.546

199

6.751

193

2.501

1.632

234

8.716

577

3.368

1.702

375

Hàng hóa phục vụ đầu tư

Vật liệu xây dựng

Thiết bị vận tải

Máy móc và trang thiết bị

1.670

402

257

857

 

1.869

507

325

860

2.246

546

365

1.065

2.685

780

365

1.247

2.979

932

407

1.308

Hàng hóa khác

61

33

65

92

139

Tổng số

8.000

8.863

10.254

11.296

14.008

Nguồn: Số liệu kinh tế-xã hội 2009, Ngân hàng Trung ương Xri Lan-ca.


Các đối tác nhập khẩu chủ yếu của Xri Lan-ka bao gồm Ấn Độ (18,9%), Trung Quốc (12,4%), Iran (7,7%), Xinh-ga-po (7,5%), Hàn Quốc (4,8%).

 



Tin mới hơn:

Tin cũ hơn:

 
© 2009 Vietnam Trade Promotion Agency - VIETRADE
 Web site này xem tốt nhất với trình duyệt Firefox