|
VIETRADE - Xri Lan-ca là nước tiên phong trong khu vực Nam Á tiến hành cải tổ nền kinh tế. Năm 1977, Xri Lan-ca từ bỏ chính sách tập trung, thay thế nhập khẩu bằng chính sách mở cửa thị trường, hướng tới xuất khẩu và khuyến khích đầu tư nước ngoài. Trong khoảng thời gian từ năm 1983 đến năm 2009, Xri Lan-ca chịu ảnh hưởng nặng nề do nội chiến. Tuy vậy, mức tăng trưởng GDP của nước này vẫn đạt trung bình 5% trong vòng 10 năm qua.
Chính phủ Xri Lan-ca chủ trương phát triển kinh tế - xã hội công bằng và hài hoà và tập trung xây dựng nền kinh tế Xri Lan-ca tự cường. Hiện Xri Lan-ca là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất khu vực Nam Á (chỉ sau Man-đi-vơ và Bu-tan). Năm 2009, mức tăng trưởng đạt 3,5% bất chấp ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Các lĩnh vực phát triển năng động nhất của nền kinh tế bao gồm: chế biến thực phẩm, dệt may, thức ăn và đồ uống, xây dựng cảng, viễn thông, bảo hiểm và ngân hàng. Có khoảng 1,5 triệu người Xri Lan-ca đang làm việc ở nước ngoài, trong đó gần 90% làm việc tại Trung Đông. Hàng năm, lực lượng lao động này gửi về nước hơn 3 tỷ USD.
Năm 2010, tổng thống Rajapaksa tái đắc cử, đồng nghĩa với việc Chính phủ sẽ vẫn tiếp tục chính sách mở cửa kinh tế với mục tiêu giảm nghèo bằng việc tập trung đầu tư vào những vùng kém phát triển, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cải thiện nông nghiệp và mở rộng hơn nữa khu vực dịch vụ trong nước. Sau cuộc xung đột kéo dài 26 năm với Lực lượng những con hổ giải phóng Tamil, chính phủ hiện nay đang bắt tay vào việc tái thiết và phát triển các dự án ở phía Bắc và Đông đất nước. Tuy vậy, đây là nhiệm vụ khó khăn vì chính phủ đang chịu mức thâm hụt ngân sách lớn và phải trả lãi suất cao cho những khoản vay tín dụng. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 cũng gây ra khủng hoảng về cán cân thanh toán của Xri Lan-ca khiến Quỹ Tiền tệ Quốc tế phải trợ giúp cho nước này 2,6 tỷ USD. Nội chiến kết thúc cùng khoản vay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã giúp khôi phục lòng tin của các nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán Xri Lan-ca là một trong những thị trường hoạt động tốt nhất năm 2009 với mức tăng 100%. Dự trữ ngoại tệ năm 2009 tăng lên hơn 5 tỷ USD.
Cơ cấu nền kinh tế theo khu vực
Nông nghiệp: Chỉ chiếm khoảng 12,6% tổng GDP của Xri Lan-ca. Các sản phẩm nông nghiệp chính bao gồm: gạo, mía, dừa, đậu, ngũ cốc, gia vị, rau quả, chè, cao su, sữa, trứng, thịt bò, cá, da thú.
Công nghiệp: Có tỷ trọng lớn hơn nông nghiệp, chiếm 29,7% GDP, tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu như dệt may, chế biến cao su, chè, dừa, thuốc lá, sản xuất thiết bị cho ngành viễn thông, sản xuất xi măng, lọc dầu, xây dựng, đóng và sửa chữa tàu biển.
Dịch vụ: Là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP, chiếm 57,7%. Các dịch vụ chủ yếu bao gồm du lịch, dịch vụ công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.
Bảng 1: Một số chỉ số kinh tế của Xri Lan-ka
|
Chỉ số kinh tế
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
2009
|
|
Thu nhập bình quân đầu người (USD)
|
1.200
|
1.350
|
1.540
|
1.780
|
1.967
|
|
Tăng trưởng GDP (%)
|
6,2
|
7,7
|
6,8
|
6,0
|
3,5
|
|
Chỉ số giá tiêu dùng (%)
|
11
|
10
|
15,8
|
22,6
|
3,5
|
|
Tỷ lệ thất nghiệp (%)
|
7,2
|
6,5
|
6,0
|
5,4
|
5,9
|
|
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu (%)
|
10,2
|
8,5
|
11,0
|
6,5
|
-12,9
|
|
Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu (%)
|
10,8
|
15,7
|
10,2
|
24,0
|
-29,4
|
|
Nợ nước ngoài (% thu nhập quốc dân)
|
47,1
|
43,8
|
44,5
|
37,9
|
|
Nguồn: Các chỉ số phát triển 2010-Ngân hàng thế giới
Tình hình phát triển thương mại
Xri Lan-ka bắt đầu thực hiện chính sách tự do thương mại vào cuối những năm 70, sớm nhất trong số các nước khu vực Nam Á. Kể từ đó Xri Lan-ka đã áp dụng tỷ giá trao đổi thống nhất dưới một hệ thống “thả nổi có kiểm soát”, sau đó thả nổi hoàn toàn vào tháng 1 năm 2001. Mức thuế trung bình được coi là thấp giờ đã tăng lên trong những năm gần đây và mức độ bảo hộ với nông nghiệp vẫn còn cao. Hầu hết hạn ngạch nhập khẩu đã được dỡ bỏ trong khoảng thời gian những năm 80, và cho đến cuối những năm 90 chỉ còn một số hạn ngạch áp dụng cho hàng công nghiệp và nông nghiệp. Tuy nhiên, đến năm 1998, tất cả hạn ngạch đã được dỡ bỏ theo quy định của Tổ chức Thương mại thế giới.
Bảng 2: Tình hình xuất nhập khẩu của Xri Lan-ka
Đơn vị tính: Tỷ USD
|
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
2009
|
2010
(Dự tính)
|
|
Xuất khẩu
|
6,9
|
7,6
|
8,1
|
7,1
|
7,8
|
8,6
|
|
Nhập khẩu
|
10,3
|
11,3
|
14,1
|
10,2
|
11,8
|
12,6
|
Nguồn: Số liệu kinh tế-xã hội 2009, Ngân hàng Trung ương Xri Lan-ca.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Sri lan-ka bao gồm: hàng dệt may, chè, cao su, dừa, gia vị, kim cương, thủy sản.
Bảng 3: Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa Xri Lan-ca
Đơn vị: triệu USD
|
Ngành hàng/mặt hàng
|
2004
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
|
Xuất khẩu nông sản
Chè
Cao su
Dừa
Nông sản khác
|
1.065
739
51
113
162
|
1.154
810
47
113
183
|
1.293
881
93
124
195
|
1.507
1025
109
141
232
|
1.855
1272
125
171
287
|
|
Xuất khẩu hàng công nghiệp
Sản phẩm dệt may
Sản phẩm xăng dầu
Sản phẩm công nghiệp khác
|
4.506
2.809
100
1.597
|
4.948
2.895
131
1.922
|
5.401
3.080
188
1.873
|
5.967
3.340
169
2.458
|
6.160
3.469
255
2.436
|
|
Xuất khẩu khoáng sản
Đá quý
Khoáng sản khác
|
120
109
12
|
143
120
23
|
120
103
17
|
128
106
22
|
122
101
21
|
|
Hàng hóa khác (Bao gồm tái xuất)
|
66
|
101
|
69
|
38
|
….
|
|
Tổng số
|
5.757
|
6.347
|
6.883
|
7.640
|
8.137
|
Nguồn: Số liệu kinh tế-xã hội 2009, Ngân hàng Trung ương Xri Lan-ca.
Các đối tác xuất khẩu chủ yếu của Xri Lan-ka bao gồm Mỹ (22,1%), Anh (12,1%), Đức (5,2%), Bỉ (4,9%), Ý (4,8%), Ấn Độ (4,5%).
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Sri lan-ka bao gồm sợi dệt, khoáng sản, xăng dầu, thực phẩm, máy móc và thiết bị vận tải.
Bảng 4: Cơ cấu nhập khẩu hàng hóa Xri Lan-ca
Đơn vị: triệu USD
|
Ngành hàng/mặt hàng
|
2004
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
|
Hàng tiêu dùng
Gạo
Bột mỳ
Đường
Sữa và các sản phẩm sữa
|
1.440
59
1
111
122
|
1.503
16
32
132
133
|
1.782
6
3
224
171
|
1.768
39
2
154
187
|
2.174
44
1
206
296
|
|
Hàng hóa trung gian
Phân bón
Xăng dầu
Sợi dệt
Hạt lúa mỳ và lúa mạch đen
|
4.828
107
1.209
1.514
183
|
5.458
135
1.655
1.531
141
|
6.161
164
2.070
1.546
199
|
6.751
193
2.501
1.632
234
|
8.716
577
3.368
1.702
375
|
|
Hàng hóa phục vụ đầu tư
Vật liệu xây dựng
Thiết bị vận tải
Máy móc và trang thiết bị
|
1.670
402
257
857
|
1.869
507
325
860
|
2.246
546
365
1.065
|
2.685
780
365
1.247
|
2.979
932
407
1.308
|
|
Hàng hóa khác
|
61
|
33
|
65
|
92
|
139
|
|
Tổng số
|
8.000
|
8.863
|
10.254
|
11.296
|
14.008
|
Nguồn: Số liệu kinh tế-xã hội 2009, Ngân hàng Trung ương Xri Lan-ca.
Các đối tác nhập khẩu chủ yếu của Xri Lan-ka bao gồm Ấn Độ (18,9%), Trung Quốc (12,4%), Iran (7,7%), Xinh-ga-po (7,5%), Hàn Quốc (4,8%).
|