|
Về cơ cấu của nền kinh tế các nước Nam Á, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng, công nghiệp còn phát triển ở trình độ trung bình thấp và dịch vụ tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh.
Trong nông nghiệp, cuộc “Cách mạng xanh” do Ấn Độ khởi xướng đã gặt hái được những thành công lớn, giúp tăng mạnh sản lượng nông nghiệp, cơ bản đáp ứng được nhu cầu lương thực của khu vực trong khoảng thời gian từ 1970 đến thập kỷ 90. Tuy nhiên, với số dân 1,5 tỷ người và có tốc độ tăng dân số cao hàng đầu thế giới thì việc đảm bảo an ninh lương thực trong khu vực hiện tại và trong thời gian tới luôn là vấn đề cấp bách và là thách thức to lớn với chính phủ các nước Nam Á.
Trong tỷ trọng GDP khu vực Nam Á, nông nghiệp chiếm khoảng trên 20%, tỷ lệ này có khác nhau giữa các nước trong khu vực. Ap-ga-nit-xtan và Nê-pan có tỷ trọng nông nghiệp cao nhất trong GDP tại khu vực, chiếm lần lượt là 31% và 35%. Mức tăng trưởng nông nghiệp trong những năm qua của khu vực là dưới 3%/năm, thấp hơn nhiều so với mức tăng của các khu vực kinh tế khác.
Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của các nước Nam Á bao gồm: gạo, lúa mỳ, bông, chè, mía đường, thịt cừu, sản phẩm sữa, gia cầm.
Một xu hướng mới trong nông nghiệp Nam Á là mặc dù tình trạng thiếu gạo xảy ra ở một số nước, nhất là Băng-la-đét, nhưng nhu cầu canh tác đối với những sản phẩm truyền thống có giá trị thấp như gạo, ngũ cốc lại có xu hướng giảm đi so với nhu cầu về các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn như thịt, sữa, cá, rau quả. Nguyên nhân là cầu đối với những sản phẩm này đang tăng nhanh do lượng dân trung lưu trong khu vực ngày càng nhiều, ngoài ra một lượng lớn dành cho xuất khẩu. Xu hướng này đang giúp cho các nước Nam Á điều chỉnh lại cơ cấu khu vực nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp, và tập trung vào những sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn.
Công nghiệp chiếm khoảng 26% tỷ trọng GDP khu vực, chủ yếu tập trung vào những nước như Ấn Độ, Pa-kit-xtan, Băng-la-đét. Ngoại trừ Ap-ga-nit-xtan và Nê-pan có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, các nước còn lại đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế công nghiệp-dịch vụ (theo Báo cáo nông nghiệp Nam Á của Ngân hàng thế giới năm 2009). Một số ngành công nghiệp chủ yếu của các nước này bao gồm: sản xuất hàng dệt may, hóa chất, dược phẩm (Ấn Độ, Pa-kit-xtan, Băng-la-đét), phân bón, xi măng, dầu khí, sắt thép (Ấn Độ), chế biến thức ăn, công nghệ thông tin (Ấn Độ), chế biến thủy hải sản (Ấn Độ, Man-đi-vơ). Trong cơ cấu công nghiệp, ngành công nghiệp chế tạo luôn ở mức 13,5% từ 1965 đến 2005, đáng chú ý có ngành sản xuất xe ô tô của Ấn Độ.
Ngoại trừ Ấn Độ, mức độ công nghiệp hóa trong khu vực Nam Á (trung bình 25%-28%) là tương đối chậm và thấp so với các nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc (46%), Thái Lan (47%), In-đô-nê-xi-a (41%).
Dịch vụ là lĩnh vực đóng góp lớn nhất vào GDP khu vực, chiếm trên 50%. Với quy mô dân số lớn và tốc độ phát triển kinh tế khá cao trong những năm qua, các nước Nam Á đã thu hút nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là Ấn Độ với trung tâm tài chính Mumbai cung cấp đa dạng các loại dịch vụ không chỉ trong nước mà còn cho cả khu vực. Các loại dịch vụ chủ yếu bao gồm: Công nghệ thông tin, gia công phần mềm (Ấn Độ, Xri Lan-ca), viễn thông, vận tải, đường sắt, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ thương mại, bất động sản. Đặc biệt, Ấn Độ có ngành dịch vụ công nghệ thông tin và gia công phần mềm phát triển hàng đầu thế giới. Theo Báo cáo của Hiệp hội các công ty dịch vụ và phần mềm Quốc gia (NASSCOM), các dự án về công nghệ thông tin của Ấn Độ đã đem về cho nước này 87 tỷ đô la Mỹ năm 2008. Ngành công nghiệp công nghệ thông tin bao gồm: Dịch vụ công nghệ thông tin, gia công phần mềm, dịch vụ hỗ trợ thông tin và thương mại điện tử.
Trong số các nước Nam Á, Man-đi-vơ, Xri Lan-ca, Nê-pan có ngành dịch vụ du lịch khá phát triển và đóng góp quan trọng vào GDP, đặc biệt là Man-đi-vơ, du lịch chiếm tới 28% GDP.
Bảng Cơ cấu kinh tế các nước Nam Á năm 2009
|
STT
|
Tên nước
|
Nông nghiệp (%)
|
Công nghiệp (%)
|
Dịch vụ
(%)
|
|
1
|
Ấn Độ
|
17,8
|
28,2
|
54,9
|
|
2
|
Pa-kit-xtan
|
20,8
|
24,3
|
54,9
|
|
3
|
Băng-la-đét
|
18,6
|
28,6
|
52,8
|
|
4
|
Xri Lan-ca
|
12,6
|
29,7
|
57,7
|
|
5
|
Nê-pan
|
35,0
|
16,0
|
49,0
|
|
6
|
Bu-tan
|
22,3
|
37,9
|
39,8
|
|
7
|
Man-đi-vơ
|
5,6
|
16,9
|
77,5
|
|
8
|
Ap-ga-nit-xtan
|
31,0
|
26,0
|
43,0
|
|
|
Toàn khu vực
|
20,35
|
25,95
|
53,7
|
Nguồn: Tổng hợp từ CIA World factbook
|