Language: English
Xu hướng Thương mại của Nhật Bản - Phần 2 In
Thứ năm, 26 Tháng 5 2011 14:38
Oto2. Xu hướng xuất nhập khẩu theo chủng loại hàng hoá
2.1. Xuất khẩu

Phân loại theo chủng loại hàng xuất khẩu, năm 2009 máy móc và thiết bị chiếm trên 60% tổng xuất khẩu của Nhật Bản. Trong tổng xuất khẩu máy móc và thiết bị thì thiết bị vân tải, máy móc điện tử và máy móc chung mỗi loại chiếm khoảng 20% . So với năm trước thì xuất khẩu thiết bị vận tải và máy móc chung mỗi loại giảm khoảng hơn 30%, trong khi đó máy móc điện tử giảm 21,6%. Thiết bị chính xác (tỷ trọng 3,6%) giảm với tỷ lệ tương đối thấp, 13,3%. Xuất khẩu hóa chất ( tỷ trọng 10.7%) và các sản phẩm kim loại chế tạo ( tỷ trọng 8,7%) , đứng thứ hai và thứ ba trong nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản cũng giảm lần lượt là 10,9% và 26,1% so với năm trước. Xuất khẩu thực phẩm ( tỷ trọng 0,7%) là nhóm hàng duy nhất tăng trưởng nhưng cũng ở mức độ rất khiêm tốn 1,4%.

 

2.2. Nhập khẩu

Phân loại theo nhóm hàng nhập khẩu thì chất đốt rắn như dầu mỏ ( tỷ trọng 27,7%) và máy móc & thiết bị ( tỷ trọng 26%) chiếm quá nửa tổng nhập khẩu của Nhật bản năm 2009, tiếp đó là thức phẩm ( tỷ trọng 9,7%) và hóa chất ( tỷ trọng 8,9%).

 

Nhập khẩu chất đốt rắn giảm  42,3% so với năm trước do giá dầu thô giảm và đồng Yên lên giá trong nửa cuối năm do suy thoái kinh tế. Nhập khẩu kim loại chế tạo, bao gồm nhập khẩu các sản phẩm sắt, thép từ Trung Quốc và Hàn Quốc giảm mạnh, 46,5%. Trong các nhóm hàng hoá khác, nhập khẩu nguyên liệu thô ( tỷ trọng 6,4%) giảm 33,2%, các sản phẩm kim loại màu ( tỷ trọng 5,8%) giảm 20% và máy móc thiết bị làm từ kim loại màu giảm 19,3% so với  năm trước . Thế nhưng , nhập khẩu thực phẩm và hoá chất giảm ít  hơn, khoảng 11%. Trong khi đó các sản phẩm dệt ( tỷ trọng 1%) chỉ giảm 0,7% do tác động tích cực bởi sự gia tăng của nhóm người tiêu dùng “thời trang mì ăn liền – Fast Fashion”.

 

Bảng 3 : Thay đổi trong Xuất Nhập khẩu của Nhật Bản theo chủng loại hàng hóa (US$)

Hàng hóa

2004

(Triệu US$)

2005

(Triệu US$)

2006

(Triệu US$)

2007

(Triệu US$)

2008

(Triệu US$)

2009

(Triệu US$)

Thay đổi theo năm

Tỷ trọng

Xuất khẩu:

 

 

 

 

 

 

 

 

Thực phẩm

2,617

2,894

3,078

3,548

3,877

3,932

1,4 %

0,7%

Hóa chất

48,245

53,273

58,445

65,749

69,486

61,904

-10,9%

10,7%

Kim loại màu

6,263

6,947

7,406

8,037

8,691

7,739

-11,0%

1,3%

Kim loại chế tạo

37,513

43,493

49,762

57,023

68,559

50,686

-26,1%

8,7%

Máy móc & thiết bị

403,629

416,308

444,657

484,584

516061

367,048

-28,9%

63,2%

-Máy móc

116,453

121,776

127,344

141,167

152,721

103,733

-32,1%

17,9%

-Máy móc điện tử

132,708

132,459

138,262

143,952

147,170

115,379

-21,6%

19,9%

-Thiết bị vận tải

130,360

138,524

156,898

177,030

192,195

127,139

-33,8%

21,9%

-Thiết bị chính xác

24,108

23,549

22,153

22,435

23,975

20,979

-13,3%

3,6%

Các loại khác

66,773

75,301

83,942

93,794

109,244

89,602

-18.0%

15,4%

Cộng:

565,039

598,215

647,290

712,735

775,918

580,911

-25,1%

100%

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhập khẩu:

 

 

 

 

 

 

 

 

Thực phẩm

48,994

50,710

49,122

51,270

59,694

53,418

-10,5%

9,7%

Nguyên liệu thô

28,429

31,945

40,724

48,061

53,056

35,438

-33,2%

6,4%

Chất đốt rắn

98,636

132,204

160,496

172,009

264,226

152,440

-42,3%

27,7%

Hóa chất

35,245

39,445

42,239

46,414

55,030

49,080

-10,8%

8,9%

Thiết bị & máy móc

142,183

153,199

165,221

169,543

177,107

142,987

-19,3%

26,0%

Sợi và vải

27,062

28,301

29,796

29,971

32,178

31,938

-0,7%

5,8%

Kim loại mầu

5,466

5,873

6,192

6,121

6,552

5,243

-20,0%

1,0%

Kim loại chế tạo

23,370

27,235

32,767

38,974

44,814

23,993

-46,5%

4,4%

Các loại khác

45,284

49,726

52,738

58,721

63,429

56,444

-11,0%

10,2%

Cộng:

454,669

518,638

579,294

621,084

756,086

550,981

-27,1%

100%

Cán cân thương mại

110,370

79,577

67,997

91,651

19,832

29,930

50,9%

-

(Nguồn:  Tổng hợp dựa trên số liệu thống kê  “Thương mại quốc tế của Nhật Bản theo chủng loại hàng hóa” trên Website của JETRO - Cục XTTM Nhật Bản tháng 4/2010).


Theo báo cáo của Bộ Thương mại Nhật Bản, trong năm 2010, thặng dư thương mại của nước này đạt 6.770 tỷ Yên (tương đương 82 tỷ USD), tăng tới 153,4% so với năm 2009.

Trong đó, xuất khẩu tăng 24,4% lên 67.410 tỷ Yên, nhập khẩu tăng 17,7% lên 60.640 tỷ Yên. Đây là lần đầu tiên trong vòng 3 năm qua, xuất khẩu của Nhật Bản tăng trưởng.

Thặng dư thương mại của Nhật Bản trong năm 2010 tăng cao là nhờ xuất khẩu sang các nền kinh tế mới nổi ở châu Á, như Trung Quốc, đạt mức kỷ lục. Các số liệu này cho thấy dấu hiệu nền kinh tế Nhật Bản sẽ mở rộng trong năm 2011, đồng thời tăng trưởng nhanh hơn Mỹ và Trung Quốc trong lĩnh vực xuất khẩu.

 

Anh_dong_dat_1Tuy nhiên, do hậu quả của trận động đất và sóng thần vừa qua, thặng dư thương mại của Nhật Bản giảm mạnh. Ngày 20/4, Bộ Tài chính Nhật Bản công bố kim ngạch xuất khẩu trong tháng 3/2011 giảm khoảng 2,2% so với cùng kỳ năm 2010. Thặng dư thương mại của Nhật Bản đã bị sụt giảm đến 78,9% so với năm 2010 . Lần đầu tiên kể từ 16 tháng, xuất khẩu của Nhật đã bị giảm, còn nhập khẩu lại tăng đến 11,9%.

 

Doanh số nhập khẩu tăng lên là do các công ty phải mua vào nhiều hơn, đặc biệt là sản phẩm ngành luyện kim và dệt may, trong khi giá dầu tăng đến 15% vì các biến động ở các nước A-rập. Nhật Bản cũng phải nhập than đá nhiều hơn cho nhiệt điện để bù đắp cho công suất của nhà máy điện nguyên tử Fukushima đã bị ngưng hoạt động sau tai nạn, mà giá than đá lại tăng gần 40%. Lượng rau quả nhập khẩu cũng tăng lên, do vùng cung ứng gần Fukushima bị nhiễm xạ.

 

Ngược lại, doanh thu các ngành xuất khẩu chủ yếu của Nhật Bản như xe hơi và hàng điện tử lại bị sút giảm nặng nề, do nhiều dây chuyền sản xuất phải ngưng hoạt động. Thảm họa kép đã phá hủy hoặc gây hư hại hàng loạt nhà máy sản xuất ở khắp vùng Đông Bắc Nhật Bản và làm sụt giảm lượng điện cung cấp trên cả nước, khiến hoạt động sản xuất và các dây chuyền cung ứng bị đình đốn.

 

Theo đánh giá của Bộ Công Thương và các hiệp hội ngành hàng, mặc dù thảm họa động đất và sóng thần sẽ ảnh hưởng đến thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản, tuy nhiên, Nhật Bản vẫn cần nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam, nhất là nông sản, hàng hóa thiết yếu để phục vụ cho việc khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống và tái thiết đất nước.


Tin liên quan:

Tin mới hơn:

Tin cũ hơn:

 
© 2009 Vietnam Trade Promotion Agency - VIETRADE
 Web site này xem tốt nhất với trình duyệt Firefox