2. Xu hướng xuất nhập khẩu theo chủng loại hàng hoá 2.1. Xuất khẩu
Phân loại theo chủng loại hàng xuất khẩu, năm 2009 máy móc và thiết bị chiếm trên 60% tổng xuất khẩu của Nhật Bản. Trong tổng xuất khẩu máy móc và thiết bị thì thiết bị vân tải, máy móc điện tử và máy móc chung mỗi loại chiếm khoảng 20% . So với năm trước thì xuất khẩu thiết bị vận tải và máy móc chung mỗi loại giảm khoảng hơn 30%, trong khi đó máy móc điện tử giảm 21,6%. Thiết bị chính xác (tỷ trọng 3,6%) giảm với tỷ lệ tương đối thấp, 13,3%. Xuất khẩu hóa chất ( tỷ trọng 10.7%) và các sản phẩm kim loại chế tạo ( tỷ trọng 8,7%) , đứng thứ hai và thứ ba trong nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản cũng giảm lần lượt là 10,9% và 26,1% so với năm trước. Xuất khẩu thực phẩm ( tỷ trọng 0,7%) là nhóm hàng duy nhất tăng trưởng nhưng cũng ở mức độ rất khiêm tốn 1,4%.
2.2. Nhập khẩu
Phân loại theo nhóm hàng nhập khẩu thì chất đốt rắn như dầu mỏ ( tỷ trọng 27,7%) và máy móc & thiết bị ( tỷ trọng 26%) chiếm quá nửa tổng nhập khẩu của Nhật bản năm 2009, tiếp đó là thức phẩm ( tỷ trọng 9,7%) và hóa chất ( tỷ trọng 8,9%).
Nhập khẩu chất đốt rắn giảm 42,3% so với năm trước do giá dầu thô giảm và đồng Yên lên giá trong nửa cuối năm do suy thoái kinh tế. Nhập khẩu kim loại chế tạo, bao gồm nhập khẩu các sản phẩm sắt, thép từ Trung Quốc và Hàn Quốc giảm mạnh, 46,5%. Trong các nhóm hàng hoá khác, nhập khẩu nguyên liệu thô ( tỷ trọng 6,4%) giảm 33,2%, các sản phẩm kim loại màu ( tỷ trọng 5,8%) giảm 20% và máy móc thiết bị làm từ kim loại màu giảm 19,3% so với năm trước . Thế nhưng , nhập khẩu thực phẩm và hoá chất giảm ít hơn, khoảng 11%. Trong khi đó các sản phẩm dệt ( tỷ trọng 1%) chỉ giảm 0,7% do tác động tích cực bởi sự gia tăng của nhóm người tiêu dùng “thời trang mì ăn liền – Fast Fashion”.
Bảng 3 : Thay đổi trong Xuất Nhập khẩu của Nhật Bản theo chủng loại hàng hóa (US$)
|
Hàng hóa
|
2004
(Triệu US$)
|
2005
(Triệu US$)
|
2006
(Triệu US$)
|
2007
(Triệu US$)
|
2008
(Triệu US$)
|
2009
(Triệu US$)
|
|
|
Thay đổi theo năm
|
Tỷ trọng
|
|
Xuất khẩu:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thực phẩm
|
2,617
|
2,894
|
3,078
|
3,548
|
3,877
|
3,932
|
1,4 %
|
0,7%
|
|
Hóa chất
|
48,245
|
53,273
|
58,445
|
65,749
|
69,486
|
61,904
|
-10,9%
|
10,7%
|
|
Kim loại màu
|
6,263
|
6,947
|
7,406
|
8,037
|
8,691
|
7,739
|
-11,0%
|
1,3%
|
|
Kim loại chế tạo
|
37,513
|
43,493
|
49,762
|
57,023
|
68,559
|
50,686
|
-26,1%
|
8,7%
|
|
Máy móc & thiết bị
|
403,629
|
416,308
|
444,657
|
484,584
|
516061
|
367,048
|
-28,9%
|
63,2%
|
|
-Máy móc
|
116,453
|
121,776
|
127,344
|
141,167
|
152,721
|
103,733
|
-32,1%
|
17,9%
|
|
-Máy móc điện tử
|
132,708
|
132,459
|
138,262
|
143,952
|
147,170
|
115,379
|
-21,6%
|
19,9%
|
|
-Thiết bị vận tải
|
130,360
|
138,524
|
156,898
|
177,030
|
192,195
|
127,139
|
-33,8%
|
21,9%
|
|
-Thiết bị chính xác
|
24,108
|
23,549
|
22,153
|
22,435
|
23,975
|
20,979
|
-13,3%
|
3,6%
|
|
Các loại khác
|
66,773
|
75,301
|
83,942
|
93,794
|
109,244
|
89,602
|
-18.0%
|
15,4%
|
|
Cộng:
|
565,039
|
598,215
|
647,290
|
712,735
|
775,918
|
580,911
|
-25,1%
|
100%
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Nhập khẩu:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thực phẩm
|
48,994
|
50,710
|
49,122
|
51,270
|
59,694
|
53,418
|
-10,5%
|
9,7%
|
|
Nguyên liệu thô
|
28,429
|
31,945
|
40,724
|
48,061
|
53,056
|
35,438
|
-33,2%
|
6,4%
|
|
Chất đốt rắn
|
98,636
|
132,204
|
160,496
|
172,009
|
264,226
|
152,440
|
-42,3%
|
27,7%
|
|
Hóa chất
|
35,245
|
39,445
|
42,239
|
46,414
|
55,030
|
49,080
|
-10,8%
|
8,9%
|
|
Thiết bị & máy móc
|
142,183
|
153,199
|
165,221
|
169,543
|
177,107
|
142,987
|
-19,3%
|
26,0%
|
|
Sợi và vải
|
27,062
|
28,301
|
29,796
|
29,971
|
32,178
|
31,938
|
-0,7%
|
5,8%
|
|
Kim loại mầu
|
5,466
|
5,873
|
6,192
|
6,121
|
6,552
|
5,243
|
-20,0%
|
1,0%
|
|
Kim loại chế tạo
|
23,370
|
27,235
|
32,767
|
38,974
|
44,814
|
23,993
|
-46,5%
|
4,4%
|
|
Các loại khác
|
45,284
|
49,726
|
52,738
|
58,721
|
63,429
|
56,444
|
-11,0%
|
10,2%
|
|
Cộng:
|
454,669
|
518,638
|
579,294
|
621,084
|
756,086
|
550,981
|
-27,1%
|
100%
|
|
Cán cân thương mại
|
110,370
|
79,577
|
67,997
|
91,651
|
19,832
|
29,930
|
50,9%
|
-
|
(Nguồn: Tổng hợp dựa trên số liệu thống kê “Thương mại quốc tế của Nhật Bản theo chủng loại hàng hóa” trên Website của JETRO - Cục XTTM Nhật Bản tháng 4/2010).
Theo báo cáo của Bộ Thương mại Nhật Bản, trong năm 2010, thặng dư thương mại của nước này đạt 6.770 tỷ Yên (tương đương 82 tỷ USD), tăng tới 153,4% so với năm 2009. Trong đó, xuất khẩu tăng 24,4% lên 67.410 tỷ Yên, nhập khẩu tăng 17,7% lên 60.640 tỷ Yên. Đây là lần đầu tiên trong vòng 3 năm qua, xuất khẩu của Nhật Bản tăng trưởng. Thặng dư thương mại của Nhật Bản trong năm 2010 tăng cao là nhờ xuất khẩu sang các nền kinh tế mới nổi ở châu Á, như Trung Quốc, đạt mức kỷ lục. Các số liệu này cho thấy dấu hiệu nền kinh tế Nhật Bản sẽ mở rộng trong năm 2011, đồng thời tăng trưởng nhanh hơn Mỹ và Trung Quốc trong lĩnh vực xuất khẩu.
Tuy nhiên, do hậu quả của trận động đất và sóng thần vừa qua, thặng dư thương mại của Nhật Bản giảm mạnh. Ngày 20/4, Bộ Tài chính Nhật Bản công bố kim ngạch xuất khẩu trong tháng 3/2011 giảm khoảng 2,2% so với cùng kỳ năm 2010. Thặng dư thương mại của Nhật Bản đã bị sụt giảm đến 78,9% so với năm 2010 . Lần đầu tiên kể từ 16 tháng, xuất khẩu của Nhật đã bị giảm, còn nhập khẩu lại tăng đến 11,9%.
Doanh số nhập khẩu tăng lên là do các công ty phải mua vào nhiều hơn, đặc biệt là sản phẩm ngành luyện kim và dệt may, trong khi giá dầu tăng đến 15% vì các biến động ở các nước A-rập. Nhật Bản cũng phải nhập than đá nhiều hơn cho nhiệt điện để bù đắp cho công suất của nhà máy điện nguyên tử Fukushima đã bị ngưng hoạt động sau tai nạn, mà giá than đá lại tăng gần 40%. Lượng rau quả nhập khẩu cũng tăng lên, do vùng cung ứng gần Fukushima bị nhiễm xạ.
Ngược lại, doanh thu các ngành xuất khẩu chủ yếu của Nhật Bản như xe hơi và hàng điện tử lại bị sút giảm nặng nề, do nhiều dây chuyền sản xuất phải ngưng hoạt động. Thảm họa kép đã phá hủy hoặc gây hư hại hàng loạt nhà máy sản xuất ở khắp vùng Đông Bắc Nhật Bản và làm sụt giảm lượng điện cung cấp trên cả nước, khiến hoạt động sản xuất và các dây chuyền cung ứng bị đình đốn.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương và các hiệp hội ngành hàng, mặc dù thảm họa động đất và sóng thần sẽ ảnh hưởng đến thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản, tuy nhiên, Nhật Bản vẫn cần nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam, nhất là nông sản, hàng hóa thiết yếu để phục vụ cho việc khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống và tái thiết đất nước. Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|