Language: English
Tổng quan về các nước khu vực Nam Á (phần 1) In
Thứ ba, 17 Tháng 5 2011 15:22

an_doVIETRADE - Hiện nay không có sự xác định thống nhất về các nước thuộc khu vực Nam Á. Trong  bài này, các nước Nam Á được xác định là các nước thành viên của Hiệp hội Nam Á vì sự hợp tác khu vực (SAARC), bao gồm: Ap-gha-ni-xtan, Ấn Độ, Băng-la-đét, Bu-tan, Pa-ki-xtan, Man-đi-vơ, Nê-pan và Xri Lan-ca.

Để giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được những hiểu biết cần thiết trước khi tiến tới việc đặt quan hệ làm ăn cũng như phát triển thị trường xuất khẩu sang các nước thuộc khu vực này, bài viết sẽ giới thiệu lần lượt những thông tin cơ bản về các thị trường tiềm năng trong khu vực Nam Á này.

 

Điều kiện địa lý, tự nhiên

Khu vực Nam Á nằm ở phía Nam lục địa châu Á, được bao bọc ở phía Bắc bởi dãy Hymalaya, phía Nam bởi Ấn Độ Dương, phía Tây giáp các nước Tây và Trung Á, phía Đông giáp với các nước Đông Nam Á.

 

Khu vực này còn được gọi là “bán đảo Nam Á” và “tiểu lục địa”. Với diện tích khoảng 4 triệu km2, chỉ chiếm khoảng 10% diện tích Châu Á, nhưng tiểu lục địa này nhỏ có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng.

 

Nam Á có ba miền địa hình khác nhau. Phía bắc là hệ thống núi Hi-ma-lay-a hùng vĩ dài gần 2.600 km, bề rộng trung bình từ 320-400 km. Phía Nam là sơn nguyên Đê-can tương đối thấp và bằng phẳng. Nằm giữa chân núi Hi-ma-lay-a và sơn nguyên Đê-can là đồng bằng Ấn-Hằng rộng và bằng phẳng, chạy từ bờ biển A-rập đến bờ vịnh Ben-gan dài hơn 3.000 km, bề rộng từ 250-350 km.

 

Vùng duyên hải phía đông nam Ấn Độ có một hòn đảo lớn, ngày nay là nước Xri Lan-ca. Man-đi-vơ, quốc gia của những hòn đảo, nằm trải dài hàng trăm dặm về phía nam lục địa Ấn Độ.

 

Đại bộ phận Nam Á nằm trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trên các vùng đồng bằng và sơn nguyên thấp, về mùa đông có gió mùa đông bắc với thời tiết lạnh và khô, mùa hạ có gió mùa tây nam nóng và ẩm từ Ấn Độ Dương đến mang theo mưa cho khu vực Nam Á. Nhịp điệu hoạt động gió mùa có ảnh hưởng lớn đến nhịp điệu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Trên các vùng núi cao, điều kiện khí hậu thay đổi theo độ cao và phân bố phức tạp.

 

Điều kiện tự nhiên và khí hậu khu vực Nam Á thích hợp phát triển nông nghiệp trồng trọt với các loại cây trồng chủ yếu của khu vực này gồm: đay, chè, gạo, lúa mì và các loại rau xanh, ngành chăn nuôi với các vật nuôi chính là trâu, bò, dê cừu, gia cầm.

 

Về tài nguyên thiên nhiên, khu vực Nam Á không phải là khu vực có nhiều tài nguyên. Một số nguyên tài nguyên chính của khu vực là than, dầu khí, khoáng sản, gỗ, tiềm năng phát triển thuỷ điện, thuỷ sản.

 

Đặc điểm văn hoá xã hội

-         Về lịch sử

Khu vực Nam Á có lịch sử trên 5.000 năm, là một trong những cái nôi văn minh của loài người.

Triều đại Ashoka (273-323 sau công nguyên) là thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử cổ đại Ấn Độ, lãnh thổ Ấn Độ được mở rộng gần như ngày nay. Đến thế kỷ 11, người Hồi giáo tràn vào Ấn Độ. Cuối thế kỷ 14, quân Nguyên chiếm hầu hết các vương quốc ở phía Bắc Ấn Độ. Từ cuối thế kỷ 15, người Châu Âu bắt đầu đến Ấn Độ. Đầu tiên là Bồ Đào Nha, đặt trung tâm tại Goa; tiếp đến là Hà Lan đặt một số cơ sở thương mại tại Ấn Độ; sau đó là Pháp và Anh. Năm 1858, Anh chiếm toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ.

 

Sau Đại chiến thế giới II, phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc trên thế giới và ở tiểu lục địa Ấn Độ lan rộng và phát triển. Đế quốc Anh buộc phải trao trả độc lập cho khu vực tiểu lục địa năm 1947. Thực hiện âm mưu chia để trị, thực dân Anh đã lợi dụng mâu thuẫn tôn giáo (Hồi giáo và Ấn Độ giáo), và sử dụng Liên minh Hồi giáo chia cắt tiểu lục địa thành hai quốc gia: Ấn Độ và Pa-ki-xtan (gồm những khu vực người theo đạo Hồi ở hai phần Tây Pa-ki-xtan và Đông Pa-ki-xtan cách xa nhau hơn 1600 km).  Phong trào đòi tự trị ở Miền Đông Pa-ki-xtan lên cao trong những năm và với sự giúp đỡ của Ând Độ, nước Băng-la-đét được thành lập năm 1971.

 

Các quốc gia khác ở khu vực Nam Á cũng đều có lịch sử lâu đời và bị các nước thực dân Anh đô hộ trong thời gian dài. Đến nay tất cả các nước này đều đã giành được độc lập: Ap-gha-ni-xtan năm 1919, Bu-tan và Nê-pan năm 1947, Xri Lan-ca 1948 và Man-đi-vơ năm 1965.

 

Quá trình đô hộ của thực dân Anh đã để lại những ảnh hưởng rõ ràng đối với khu vực Nam Á. Mạng lưới truyền thông, phương tiện giao thông, ngân hàng, lực lượng lao động, đường sắt, bưu điện, và các cơ sở giáo dục đều được lập ra trong thời kỳ đô hộ của thực dân Anh. Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi ở phần lớn các nước trong khu vực.

 

-         Về dân cư

Dân số các nước Nam Á hiện nay khoảng trên 1,5 tỷ người, tập trung chủ yếu tại Ấn Độ, Pa-ki-xtan và Băng-la-đét. Đây là khu vực có mật độ dân số đông nhất trên thế giới với 388 người/km2.

 

Dân cư Nam Á rất đa dạng, bao gồm trên 2.000 tộc người với quy mô rất khác nhau, từ hàng trăm triệu cho tới các bộ tộc chỉ có vài nghìn người.

 

Dân số các nước khu vực Nam Á tiếp tục tăng trưởng nhanh, hiện nay đạt khoảng 1,5% năm và được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Ấn Độ là nước đông dân nhất trong khu vực, dân số hiện nay là khoảng 1,2 tỷ người và sẽ sớm vượt Trung Quốc để trở thành nước đông dân nhất thế giới.

 

Bảng: Diện tích, dân số các nước Nam Á năm 2009

STT

Nước

Diện tích
(km2)

Dân số
(người)

1

Ap-gha-ni-xtan

647.500

33,609,937

2

Băng-la-đét

147.570

162.221.000

3

Bu tan

38.394

697.000

4

Ấn Độ

3.287.240

1.198.003.000

5

Man-đi-vơ

298

396.334

6

Nê pan

147,181

29.331.000

7

Pa-kit-xtan

803,940

180.808.000

8

Xri Lan-ca

65.610

20.238.000

Nguồn: CIA World Fact Book



Tin mới hơn:

Tin cũ hơn:

 
© 2009 Vietnam Trade Promotion Agency - VIETRADE
 Web site này xem tốt nhất với trình duyệt Firefox