Language: English
Thị trường bông và các sản phẩm từ bông tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2016 In
Thứ hai, 05 Tháng 12 2016 10:18
VIETRADE - Sản lượng

Diện tích trồng và sản lượng bông của Thổ Nhĩ Kỳ trong năm 2016 lần lượt đạt 400 nghìn héc ta và 705 nghìn tấn (tương đương 3,2 triệu kiện). Trong khi diện tích trồng bông tại các vùng Aegean và Cukurova cao hơn so với dự kiến đầu mùa, thì lại giảm ở các khu vực GAP. Nhìn chung diện tích trồng bông đã tăng khoảng 15% so với năm 2015 do trợ cấp của chính phủ cho sản xuất bông tăng và tại các vùng trồng bông, lợi nhuận từ mặt hàng này cao hơn so với các cây trồng khác như ngô. Tổng sản lượng và năng suất bông cũng cao hơn so với năm ngoái do đổi mới giống cây trồng cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi và các quy trình trồng trọt hiệu quả. Sáng kiến tăng trợ cấp sản xuất bông lên mức 0,75 lira Thổ Nhĩ Kỳ (tương đương 0,25 đô-la Mỹ)/1 kg hạt bông của chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã có tác động tích cực đến quyết định của người nông dân.

 

Thổ Nhĩ Kỳ đã tham gia chương trình phi lợi nhuận “Better Cotton Initiative” (BCI) từ 3 năm trước và dự kiến sẽ sản xuất khoảng 40 nghìn tấn bông BCI trong năm 2016. Sản lượng bông BCI được mong đợi sẽ tăng mạnh trong các năm tới do mức lợi nhuận cao đã tạo ra lợi ích cho nông dân ở tất cả các khu vực.

 

Cung -  cầu mặt hàng bông tại Thổ Nhĩ Kỳ, giai đoạn 2014-2016

Đơn vị: (Héc-ta) (tấn)

2014

2015

2016

Thời điểm bắt đầu vụ mùa

14/8

15/8

16/8

Diện tích trồng

430.000

370.000

400.000

Diện tích thu hoạch

430.000

370.000

400.000

Lượng dự trữ đầu mùa

180.055

228.830

201.810

Sản lượng

700.000

580.000

705.000

Nhập khẩu

800.068

918.307

825.000

TỔNG CUNG

1.680.123

1.727.137

1.731.810

Xuất khẩu

51.293

50.327

55.000

Tiêu thụ nội địa

1.400.000

1.475.000

1.475.000

Thất thoát tiêu thụ nội địa

0

0

0

TỔNG tiêu thụ nội địa

1.400.000

1.475.000

1.475.000

Lượng dự trữ cuối mùa

228.830

201.810

201.810

TỔNG SẢN LƯỢNG PHÂN PHỐI

1.680.123

1.727.137

1.731.810

 

Tiêu thụ

Tiêu thụ bông trong nước của Thổ Nhĩ Kỳ trong năm 2016 dường như không có sự thay đổi nhiều so với năm 2015, và đạt mức 1,475 triệu tấn (tương đương với 6,77 triệu kiện). Xuất khẩu bông đến một số thị trường Trung Đông giảm trong năm 2016 tuy nhiên sản lượng xuất khẩu đến Cộng đồng các quốc gia độc lập sẽ tăng lên và có thể bù đắp lại sự sụt giảm trên. Nhu cầu từ các nước châu Âu, thị trường hàng đầu đối với ngành xuất khẩu dệt may Thổ Nhĩ Kỳ, dự kiến vẫn duy trì ở mức năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2015 của Thổ Nhĩ Kỳ đạt 25,1 tỉ đô-la Mỹ. Các công ty Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang đầu tư, mua sắm các máy móc mới với công nghệ tối tân nhằm duy trì sức cạnh tranh trên thị trường dệt may toàn cầu.

 

Dệt may là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của Thổ Nhĩ Kỳ, với thị phần xuất khẩu khoảng 15% và cung cấp khoảng 2,5 triệu việc làm. Châu Âu là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặt khác, Thổ Nhĩ Kỳ là nhà cung cấp lớn thứ 3 của thị trường châu Âu, chỉ sau Trung Quốc và Băng-la-đét. Việc đồng Euro mất giá so với đồng đô-la Mỹ cũng tác động têu cực đến xuất khẩu hàng dệt may Thổ Nhĩ Kỳ sang thị trường châu Âu do hầu hết các nguyên liệu được nhập khẩu bằng đô-la Mỹ trong khi thành phẩm lại được xuất khẩu bằng đồng euro.

 

Thương mại

Trong năm 2015, Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập khẩu 918.307 tấn bông (tương đương 4,215 triệu kiện), cao hơn mức 800.000 tấn (tương đương 3,67 triệu kiện) trong năm 2014 do sản lượng tiêu thụ trong nước tăng. Thị phần bông nhập khẩu từ Hoa Kỳ đã giảm xuống 36% so với con số 50% trong năm 2013. Đây là kết quả của một loạt bất ổn do các cuộc điều tra chống bán phá giá kéo dài hơn 18 tháng và phán quyết cuối cùng là mức thuế 3% áp dụng cho bông xuất khẩu từ Hoa Kỳ sang Thổ Nhĩ Kỳ.

 

Ba nhà cung cấp bông hàng đầu khác cho Thổ Nhĩ Kỳ trong năm 2015 là Turkmeinstan - 137 nghìn tấn, Hy Lạp - 105 nghìn tấn và Bra-xin - 127 nghìn tấn. Xuất khẩu bông của Bra-xin sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ đã có mức tăng trưởng 100% trong suốt năm 2015. Bên cạnh đó, dù có xung đột ở biên giới phía Bắc Thổ Nhĩ Kỳ nhưng khoảng 17 nghìn tấn bông của Syria vẫn được nhập khẩu.

 

Nhập khẩu bông của Thổ Nhĩ Kỳ, 2014-2015

Đơn vị: tấn

Thời gian T8/T7 T8/T7
Năm 2014 Năm 2015
Hoa Kỳ 338.534 Hoa Kỳ 329.384
Turkmenistan 169.841 Turkmenistan 137.307
Hy Lạp 128.132 Brazil 127.317
Bra-xin 62.570 Hy Lạp 104.896
Syria 28.389 Burkina Faso 51.690
Tajikistan 14.404 Tajikistan 24.523
Acs-hen-ti-na 13.261 Bờ biển Ngà 23.602
Uzbekistan 6.143 Ấn Độ 21.241
Bờ biển Ngà 4.643 Syria 17.156
Ấn Độ 4.300 Uzbekistan 16.929
Mali 3.944 Ác-hen-ti-na 10.423
Các nước khác 25.907 Các nước khác 53.839
TỔNG CỘNG 800.068 918.307

Trong tháng 8 năm 2016,Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập khẩu 45 nghìn tấn bông, trong đó 30 nghìn tấn từ Hoa Kỳ và 7 nghìn tấn từ Turkmenistan.

 

Trong năm 2015, Thổ Nhĩ Kỳ đã xuất khẩu tổng cộng 50.300 tấn bông, trong đó 11.000 tấn là bông xơ và 39.000 tấn là bông y tế. không thấm nước. Khoảng 2.575 tấn bông xơ được xuất khẩu đến các khu vực tự do thương mại mậu dịch và có thể tái nhập khẩu sau này. Băng-la-đét là thị trường nhập khẩu bông Thổ Nhĩ Kỳ lớn nhất với 4.160 tấn, theo sau là Hy Lạp với 2.000 tấn.

 

Trong những tháng đầu năm 2016, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã xuất khẩu 10.600 tấn bông bao gồm 5.600 tấn bông y tế không thấm nước và 5.000 tấn bông dệt may. Băng-la-đét tiếp tục là nhà nhập khẩu bông lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, với sản lượng nhập khẩu đạt 3.300 tấn.


Tin cũ hơn:

 
© 2009 Vietnam Trade Promotion Agency - VIETRADE
 Web site này xem tốt nhất với trình duyệt Firefox